Chương 23: Nguyên nhân tử vong do tai nạn xe.

Ngày tháng lặng lẽ trôi. Không lâu sau, Trịnh Hạo Bạch xuất viện. Cùng lúc đó, bản án dành cho Trần Học Tùng cũng được tuyên.

Chứng cứ rõ rành rành, bị cáo cúi đầu nhận tội. Lại thêm hành vi tấn công cảnh sát, bỏ trốn, thủ đoạn gây án tàn độc đến rợn người, mức độ nguy hại đối với xã hội quá lớn — Trần Học Tùng bị tuyên án tù chung thân, tước quyền tự do dân chủ suốt đời, kèm theo phạt tiền. Không được kháng cáo.

Kết cục ấy khiến lòng người hả dạ, với hạng người như Trần Học Tùng, sống mà mang án, sống mà trả giá từng ngày, còn khiến người ta nguôi ngoai hơn chết chóng vánh. Cả huyện từng hoang mang vì vụ án, giờ mới dám thở phào.

Sau khi phán quyết được công bố, người vợ mới cưới của Trần Học Tùng nộp đơn ly hôn, lặng lẽ thu dọn đồ đạc, về lại nhà mẹ ruột. Ba mẹ gã vì những ánh mắt lạnh lùng, những lời xì xào sau lưng, cũng bỏ đi, trở về quê cũ.

Vụ án gϊếŧ người giấu xác trong nhà kính trồng dâu, đến đây coi như chấm dứt.

Tiền Y Hứa mang theo một nhành cúc, đến thăm Vương Dục Mai. Dưới nắng tươi, ba nấm mộ nằm kề nhau. Một nhà ba người, cuối cùng cũng được ở cạnh nhau rồi…

Đội hình sự lại trở về guồng công việc thường ngày, việc không nhiều, mấy người lại được điều sang hỗ trợ đội an ninh, đội tuần tra.

Tiền Y Hứa lại bị nhét về phòng tiếp dân. Ngày ngày đối diện với những chuyện lông gà vỏ tỏi: mấy ông bác trai bác gái cãi nhau vì bát nước mắm, con gà, luống rau; rồi xô xát, rồi khóc lóc, rồi nhờ công an phân xử.

Mệt thì mệt, nhưng lòng cô không còn chộn rộn như buổi đầu mới vào nghề.

Vừa tiễn xong một cặp chủ chó vì chó nhà ai cắn chó nhà kia, đòi bồi thường không xong mà sinh chuyện, Tiền Y Hứa còn chưa kịp uống ngụm nước thì thấy ngoài cửa có thêm ba người bước vào.

Đi đầu là một người đàn ông trung niên, tóc hai bên đã bạc, lưng hơi còng, gương mặt hốc hác, khổ hạnh. Trông chừng ngoài năm mươi. Theo sau là một nam một nữ, dìu nhau đi. Nhìn qua cũng đoán được: hoặc là vợ chồng, hoặc là anh em.

Người đàn ông trẻ chừng hơn ba mươi, nét mặt mệt mỏi, dáng dấp có phần giống người lớn tuổi phía trước, có lẽ là cha con.

Họ dừng trước quầy tiếp dân. Tiền Y Hứa lập tức dò hỏi:

“Dạ, các anh chị có việc gì không ạ?”

“Làm ơn, cô công an…” Người đàn ông trẻ lên tiếng, giọng khàn đặc. “Tôi muốn hỏi… có tin tức gì về mẹ tôi chưa? Đã mấy ngày rồi…”

Tiền Y Hứa giật mình.

“Mẹ anh mất tích à?” Cô vội kéo sổ đăng ký ra.

“Dạ phải. Trước đó tụi tôi có báo rồi. Mẹ tôi mất tích nhiều ngày lắm.”

Tiền Y Hứa sững sốt. Đã báo án rồi sao? Đúng lúc ấy, Tống Duy Niên từ phòng trong bước ra, đi thẳng tới trước mặt họ:

“À, bác Tào, anh Tào, chị Tào. Mọi người tới rồi à. Bên tôi vẫn đang tìm, nhưng hiện giờ… thật sự chưa có tin gì.”

Người đàn ông được gọi là anh Tào không kìm được, nước mắt rơi xuống. Tống Duy Niên dẫn họ ngồi xuống, nói vài lời trấn an, rồi tiễn họ ra về.

Lúc ấy, Tiền Y Hứa mới sực nhớ, hôm nọ, trong bãi đỗ xe, cô từng thấy gia đình này, khi đó, vụ án trước còn chưa lộ diện hung thủ. Chờ Tống Duy Niên quay lại, cô vội hỏi:

“Anh Tống, sao vậy? Nhà này có người mất tích à?”

Sảnh tiếp dân đã vắng. Tống Duy Niên hạ giọng:

“Ba người đó là cha Tào Lập Cương, con trai Tào Hà, đi cùng là con dâu Trần Đình. Người mất tích là bà Trương Tố Hoa, vợ ông Tào, mẹ Tào Hà. Sáng 24 tháng 5, hôm đó sương mù dày lắm, bà như thường lệ xách giỏ đi chợ mua đồ ăn, chợ ở sát sông, từ khu họ ở đi bộ chừng hai mươi phút. Bà hay đi dọc bờ đê, mua xong thì về nấu cơm, rồi trông cháu cho con cái.”

“Hôm đó, bà nhờ ông Tào trông cháu, rồi xách giỏ đi mua trứng tươi. Kết quả bảy giờ sáng ra khỏi nhà, tới mười giờ vẫn chưa thấy về. Sương mù hôm đó dày đặc lắm, tới hơn mười giờ vẫn chưa tan. Trời lại âm u. Ông Tào bận trông cháu, gọi điện thì bà không nghe.”

“Ông gọi cho con trai con dâu, họ xin nghỉ làm về tìm. Đi dọc đường từ nhà tới chợ, cuối cùng là cô con dâu tinh ý, thấy trên bờ sông có một giỏ trứng gà bể nát, cái giỏ chính là cái mà bà Trương mang theo sáng hôm đó.”

Phần sau, ai nghe cũng đoán được.

Người ta đều nghĩ bà Trương rơi xuống sông.

Cả nhà hoảng loạn. Họ thuê thuyền chài, báo công an. Có người buộc dây thừng, lội xuống sông vớt.

Huyện Z tuy chưa phát triển, nhưng lại có một cái hồ lớn nổi tiếng. Sông ngòi chằng chịt, thông ra hồ.

Đoạn sông nơi bà Trương mất tích, nước chảy từ tây sang đông, dòng không xiết. Cách đó ba trăm mét có một cống nước, ngày thường vẫn đóng vì đang mùa cấm đánh bắt. Nếu bà thật sự rơi xuống, mò theo dòng nước thì vẫn còn hy vọng tìm được.

Cả nhà chờ bên sông suốt một ngày một đêm nhưng bất lực trở về. Càng tìm về phía đông, càng gần cống. Thuyền thả lưới lớn xuống đáy sông, thợ lặn mặc đồ bảo hộ, hết lần này tới lần khác lặn xuống. Năm ngày trôi qua, vẫn trắng tay.

Rồi trong tuyệt vọng, họ lại nhen nhóm một hy vọng khác: hay là bà không rơi xuống sông, chỉ là sương mù dày quá, đi lạc đường, hoặc bị người ta lừa đi đâu đó. Chỉ cần còn sống, mất tích rồi cũng có ngày tìm ra.

Họ báo án lần nữa, mong cảnh sát giúp tìm người. Cuộc sống gia đình gần như tê liệt. Cơ quan của con trai con dâu thông cảm cho nghỉ dài ngày. Con dâu ở nhà trông con. Ông Tào và con trai chạy ngược xuôi khắp nơi. Họ in hàng loạt ảnh bà Trương, dán thông báo tìm người khắp huyện thành lớn nhỏ.

Ngày qua ngày. Không tin tức.

Bà Trương Tố Hoa như tan vào sương mù, bốc hơi khỏi cõi đời này.

Tống Duy Niên kể xong thì quay lại với công việc của mình, Tiền Y Hứa lặng im, nhẩm tính: đã hai mươi ngày kể từ khi bà Trương mất tích.

Dù không nỡ, nhưng nếu không có gì bất ngờ… Có lẽ, bà vẫn còn nằm đâu đó dưới lòng sông.