Buổi chiều quay phim, cảnh quay của Tô Kiến Thanh ít đi, cô ngồi một góc bần thần, trong tay ôm chặt chiếc bình giữ nhiệt, bên trong là trà hoa mà Kỳ Chính Hàn chuẩn bị cho cô.
Một đạo diễn đi tới, dịu dàng hỏi cô có phải đang không vui không.
Tô Kiến Thanh bèn nói, do lúc ăn trưa cô bất cẩn để dầu bắn lên người, rồi chỉ cho cô ấy xem vết bẩn trên áo mình.
Kết thúc một ngày quay, cô trở về nhà, đứng trước gương nhìn gương mặt của chính mình. Cô không có được nét đẹp sắc sảo như Giang Liễm, càng không có được dung mạo đậm nét với đôi mắt to, sống mũi cao mà đại đa số khán giả hiện nay yêu thích. Cô chẳng qua là một cô gái lớn lên ở trấn nhỏ Giang Nam, làn da trắng nõn, đường nét tinh tế, thoạt nhìn có phần non nớt hơn so với bạn cùng trang lứa. Người ta khen cô nhiều nhất không phải vì xinh đẹp mà vì cô có khí chất rất tốt.
Tô Kiến Thanh hiểu rõ điểm yếu về ngoại hình của mình. Với gương mặt này, nếu ở trường học miễn cưỡng cũng có thể xem là hoa khôi của lớp, nhưng khi bước chân vào giới giải trí, một vũng nước sâu đầy rẫy cạnh tranh, cô trở nên nhạt nhòa, dễ bị quên lãng.
Buổi tối mất ngủ, Tô Kiến Thanh mở trang nhật ký trên Douban, bắt đầu viết vài dòng.
Ở thanh tiêu đề, cô nhập vào: [Trang nhật ký thứ nhất]
Không lâu trước đây, tôi gặp lại anh. Đến tận bây giờ tôi vẫn tự hỏi, liệu tất cả có phải là giấc mơ không?
Năm nay là mùa đông thứ ba tôi ở Yến Thành. Một mùa đông với cơn mưa tuyết không dứt, những giàn thường xuân úa tàn, một người bạn đang chật vật lo liệu tiền trọ từng ngày, rồi những nỗi lo âu vì bài tập còn dang dở, từng chi tiết nhỏ ấy đang nhắc nhở tôi rằng, tôi đang ở tuổi hai mươi đầy khó khăn, cố gắng xoay sở với cuộc sống chân thực không chút màu mè này.
Tôi từng nghĩ rằng thành phố này chẳng có gì cao quý. Tôi đến thăm những phủ đệ của các bậc đế vương ngày trước, bước qua những công viên và danh lam mang chữ “Hải” trong tên gọi, nhưng nếu đặt chúng ở quê tôi, nơi ấy vốn dĩ chỉ là một cái ao. Thế mà ở đây chúng lại được gọi là biển. Thực không công bằng.
Tôi nói với mẹ: “Nơi này xám xịt, tầm thường.” Mẹ bảo với tôi: “Đừng tự cho mình thanh cao.”
Bà là người hiểu tôi nhất trên đời, hiểu cả sự kiêu ngạo ăn sâu vào tận cốt tủy của tôi. Dù chính tôi còn chưa nhận ra, bà đã sớm nhìn thấu.
Sự kiêu ngạo ấy kéo tôi ngã xuống. Tôi bị xua đuổi nhưng vẫn ương ngạnh không rời đi. Vì tôi nhận ra, tôi vẫn cần nó. Sau cùng, tôi phải thừa nhận rằng, điều tôi nên xem thường chưa bao giờ là Yến Thành mà là sự nông cạn của bản thân.
Giữa những tháng ngày khốn khó, chân thực như bao lần trước đó, lòng tham của tôi đã thúc đẩy tôi gặp gỡ một người, một người quá đỗi không chân thực.
Trong nhà tôi có dù anh tặng, trên môi tôi còn lưu lại hơi ấm của anh, quần áo tôi vương đầy hương thơm của anh, bên tai tôi vẫn còn văng vẳng giọng anh dặn dò. Mỗi đêm khi tôi nhắm mắt, sự dịu dàng của anh lại nhấn chìm tôi.
Đây không phải là mơ. Tôi có được anh, và anh mang đến cho tôi tất cả.
Thế nhưng, càng đến gần anh, tôi lại càng sợ hãi. Tôi sợ điều đáng sợ nhất trên đời này sẽ xảy đến với mình, đó là mất hết lý trí yêu một người đàn ông.
Vậy nên, dù có nhớ anh đến nhường nào, tôi cũng không nên nói ra.
–
Lời tác giả:
Chữ “Hải” [5] trong danh xưng của hoàng gia thực chất mang ý nghĩa vườn sau cung điện, chứ không phải biển cả thực sự.
Chú thích:
[4] “早安” (zǎo ān): Nghĩa là “chào buổi sáng”.
“保安” (bǎo ān): Nghĩa là “bảo vệ” (nhân viên bảo vệ)
[5] Trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc, chữ “Hải” (海) trong một số danh xưng hoàng gia hoặc địa danh không nhất thiết mang nghĩa “biển”, mà đôi khi chỉ ám chỉ một không gian rộng lớn, xa hoa, hoặc khu vườn sau cung điện.