Từ phường Bát Hưng ra tới đường chính, đường rộng lớn, khí thế đường hoàng, chừng hai ba trượng bề ngang. Hai bên đường không có cửa hàng buôn bán cố định hay quầy sạp bày biện gì, chỉ có các loại xe ngựa, xe bò, xe la, còn có dân thường đẩy xe cút kít. Những đoàn xe chở hàng qua lại nườm nượp, thôn dân ăn mặc chất phác cõng sọt, vội vã lên đường đi bán hàng.
Người đi đường có kẻ quen thuộc, dọc phố bày quán rao bán, có người thì đi thẳng đến hai chợ lớn. Đa số đều là dân thường.
Muốn buôn bán hàng hóa ở nhị thị, chỉ cần chiếm một chỗ ven đường là phải nộp phí năm văn tiền. Nếu chỉ bày hàng tạm ngoài đường phố thì thu ba văn. Dân quê quanh thành Phụng Nguyên nếu cõng hàng vào thành bán, đa phần chọn ra phố buôn bán, lời lãi được nhiều hơn một chút.
Trên đường đi về phía chợ phía tây, Thang Hiển Linh dần dần khơi lại trí nhớ. Có lẽ là từng sống ở đây hai mươi năm, lúc nhỏ thường bị sai vặt ra chợ mua đồ, với Ngũ ca nhi nhi và các tỷ tỷ mà nói, ra chợ phía tây dạo một vòng chẳng khác nào là đang chơi đùa vậy.
Từ con đường lớn đi hơn nửa canh giờ mới đến được chợ phía tây, nếu muốn đến chợ phía đông thì còn xa hơn nữa.
Nếu mệt, thật ra cũng có thể ngồi “xe taxi”. Thang Hiển Linh nhìn thấy trên đường thỉnh thoảng có xe la che mái vải màu xanh đen đi qua, trước xe còn treo mảnh vải đỏ và chuỗi lục lạc, đây chính là loại “xe taxi” phổ biến thời đó.
Chỉ cần vẫy tay là xe sẽ dừng, sau đó thương lượng giá với xa phu. Loại xe này thường chỉ chở khách đến các ngã tư lớn gần khu buôn bán, không đi sâu vào trong phường. Xe tư thì không đắt, ba bốn văn tiền một chuyến, tính theo khoảng cách và có mang theo hàng hóa hay không.
Thang Hiển Linh luyến tiếc tiêu mấy chục đồng tiền Tưởng Vân đưa, nên chọn đi bộ theo tuyến đường số 11 [ám chỉ hai chân] đến chợ phía tây. Trên đường đi, cảnh vật mới lạ, cái gì nhìn cũng thú vị, lại thêm ánh nắng xuân ấm áp chiếu trên người, thoải mái không sao tả xiết.
Còn chưa tới nơi, đã nghe thấy tiếng người ồn ào từ đầu phố chính phía xa vọng lại.
Thang Hiển Linh bước nhanh hơn, đến cổng vào chợ phía tây. Con đường bên trong rộng rãi, không khác mấy so với những con phố lớn trong các phường, nhưng hai bên toàn là cửa hàng buôn bán, tiếng rao hàng nối liền không dứt, vô cùng náo nhiệt.
Chợ phía tây gồm mấy con phố hợp lại, đều là nơi buôn bán chuyên ngành.
Thang Hiển Linh cứ thế đi tiếp, vì đến sớm nên các cửa hàng ăn vẫn còn đang bán bữa sáng. Mùi thơm nức mũi, nồng đậm hương thịt quyện với mùi bánh mè mới ra lò. Cửa tiệm ở đây khá rộng, loại nhỏ nhất cũng cỡ bằng hai gian cửa hàng lớn mà nhà họ Thang vẫn lấy làm tự hào.
Còn có mấy quán rượu hai tầng, phía sau còn kèm theo cả khu nhà nghỉ dành cho khách ở trọ.
Tiệm son phấn, tơ lụa, trang sức... cái gì cũng có. Còn có cả những cửa hàng bán đồ trang trí kiểu “Tây Dương” [phương Tây]. Thang Hiển Linh nhìn đến ngẩn cả người. Nếu y không nhìn lầm, thì thứ đang trưng bày trong cửa hàng bán trang sức kia, chẳng phải là một tượng thiên sứ nhỏ đang cầm cung tên sao?
“Tiểu phu lang nhìn trúng món đồ trang trí kia sao? Có muốn xem thử không?” Tiểu nhị của tiệm cười niềm nở, chưa nói hai câu đã gỡ món đồ xuống đưa qua tay, vừa nói vừa cười: “Ngài đúng là có con mắt tinh đời. Món này là hàng phỏng theo được mang về trong chuyến hải hành ra nước ngoài năm Văn Định thứ 20. Nghe nói đứa bé kia là thần nhỏ của một quốc gia xa xôi, chuyên phụ trách phù hộ nhân duyên đấy.”
Thang Hiển Linh: “...”
Thần tình yêu Cupid à, y biết rõ lắm.
Y không khỏi nhướn mày cười đùa: “Vị thần ngoại quốc kia mà cũng quản được chuyện bên này à? Còn phải vượt biển đến đây phù hộ cho nhân duyên của dân triều Vinh bọn ta nữa?”
Tiểu nhị thoáng sửng sốt một cái rồi nhanh chóng phá lên cười: “Tiểu phu lang nói chuyện thật thú vị. Cái đó thì ta cũng không rõ nữa!”
“Oa oa, thật là đáng yêu quá! Chỉ tiếc là ta không có tiền, nếu không đã mua về thử xem rồi. Nếu linh nghiệm thật, ta sẽ quay lại tặng tiệm một lá cờ thưởng để tuyên truyền giúp nhé!” Thang Hiển Linh cười tủm tỉm nói.
Buổi sáng sớm, trong tiệm chưa có khách, tiểu nhị rảnh rỗi trò chuyện cùng tiểu phu lang. Lời đối thoại cũng lọt vào tai chưởng quầy đang ngồi phía sau ghi sổ. Nghe xong cũng không nhịn được bật cười. Tiểu nhị thì cười càng vui, miệng ngọt như mía lùi: “Vậy thì tốt quá rồi! Tiểu nhân ở đây chờ ngài phát tài quay lại mua ạ.”
Thang Hiển Linh cười ha hả: “Lời hay dễ nghe!”
Sau khi bắt chuyện, Thang Hiển Linh khéo léo hỏi về đội thương thuyền ra khơi năm Văn Định thứ 20. Chuyện này y vừa nghe tiểu nhị nhắc đến, chủ yếu là muốn moi được chút tin tức, trò chuyện kiểu tự nhiên bao giờ cũng hơn hỏi thẳng khô khan.
Xem chừng đội thương thuyền đó là một sự kiện lớn trong triều Vinh.