Thấy bộ dạng chết nhát của Diêu Điệp Ngọc, Kim Nguyệt Nô bực bội trừng mắt.
Bị trừng mắt như vậy, nàng bỗng thấy tủi thân vô cùng, vành mắt bất giác hoe đỏ, rồi long lanh ngấn nước.
Diêu Điệp Ngọc vốn là một mỹ nhân nên dù có bày ra dáng vẻ nào cũng đều toát lên nét yêu kiều, đáng thương. Cùng là phận nữ nhi mà nhan sắc của Kim Nguyệt Nô chỉ bằng ba phần của nàng. Ngày ngày phải nghe đám nam nhân nữ nhân xung quanh tấm tắc khen con dâu Lữ gia xinh đẹp ra sao, lòng dạ Kim Nguyệt Nô khó tránh khỏi ghen tị.
Thế là nhân cơ hội này, nàng ấy liền véo mạnh vào cánh tay Diêu Điệp Ngọc mà mắng nhiếc: “Có nương tử nhà ai lại tham sống sợ chết như muội không hả? Phu quân nhà muội đang phải chịu khổ trong ngục, còn muội thì lại sợ chết co rúm, dù xinh đẹp mười phần thì ích gì cơ chứ.”
Nghe Kim Nguyệt Nô mắng một trận, Diêu Điệp Ngọc cũng tự thấy mình thật vô dụng, bèn cúi đầu lau đi giọt lệ nhỏ đang chực trào nơi khóe mắt.
Kim Nguyệt Nô cũng chẳng phải người hung ác gì, sau khi trút được cơn giận, thái độ của nàng ấy cũng dịu đi nhiều, bèn nói tiếp những lời còn dang dở lúc nãy:
“Ta với muội quen biết nhau lâu như vậy, lẽ nào ta lại để cho cô nương ngốc như muội đi tìm cái chết thật hay sao? Kể từ khi khai quốc đến nay, vua tôi đều lấy lòng nhân từ để trị quốc an dân, muội cứ đi ‘chịu tội thay chồng’, chắc chắn sẽ thành công.”
“Ý-Ý tỷ là sao?” Đương nhiên Diêu Điệp Ngọc biết chuyện vua tôi lấy lòng nhân từ để trị quốc an dân, nhưng nàng vẫn chưa hiểu rõ lắm.
“Muội đó… Muội đó… Không phải muội thích đọc sách lắm sao? Sao đọc nhiều sách như vậy mà đầu óc vẫn không thông suốt chút nào, cứ như một khúc gỗ ấy.” Kim Nguyệt Nô vừa tức vừa giận, chỉ hận rèn sắt không thành thép, chỉ muốn dùng ngón tay búng vào trán đối phương một cái.
Không chỉ búng, nàng ấy còn muốn bổ đôi cái đầu của Diêu Điệp Ngọc ra xem bên trong có phải toàn là óc heo hay không.
Diêu Điệp Ngọc đau điếng, vội ôm đầu lùi về sau, cuống quýt giải thích: “Nguyệt Nô tỷ tỷ, t-ta thật sự không hiểu mà.”
Vừa gấp gáp, hai hàng lệ trong veo đã lăn dài trên đôi má đào.
Kim Nguyệt Nô tức đến giậm chân, nhưng có tức giận cũng vô ích, dù có tức chết thì kẻ ngốc trước mắt cũng chẳng hiểu ra vấn đề. Nàng ấy hít sâu vài hơi rồi giải thích:
“Trước đây từng có một phụ nhân nguyện chết thay cho người chồng phạm tội. Chuyện này được bẩm báo lên triều đình, Đại Đế thương cảm cho tấm chân tình của nàng ấy, bèn lấy cớ ‘dùng nhân nghĩa trị quốc’ mà nhanh chóng miễn tội cho người chồng. Đã có tiền lệ này rồi, nay muội cứ bắt chước làm theo, dù vị Tri phủ đại nhân kia có là quan to đến đâu, thân thế có lẫy lừng thế nào cũng chẳng làm gì được muội, đúng không nào? Vả lại, nếu chiêu này không hiệu quả, Tri phủ đại nhân cũng đâu thể để cho muội chết được, muội có phạm tội gì đâu mà. Cùng lắm thì chỉ có thể nói phu quân nhà muội là một kẻ đoản mệnh mà thôi.”
Nói đến đoạn sau, vẻ mặt Kim Nguyệt Nô lại lộ rõ vẻ chán ghét, lần này người nàng ấy chán ghét chính là Lữ Bằng, phu quân của Diêu Điệp Ngọc:
“Đúng là hết nói nổi, đang yên đang lành không muốn, lại đi trộm hạt giống làm gì… Quả là còn ngốc hơn cả muội. Mà chỉ e cái sự ngốc nghếch của muội là lây từ việc chung chăn chung gối mà ra đấy. Ta cũng phải tránh xa muội ra một chút mới được, hai người mới ngủ chung trên giường có một năm mà muội đã ngốc đến thế này rồi, nếu ngủ cùng mười mấy hai mươi năm, e rằng con cái sinh ra cũng ngốc nốt thôi.”
Diêu Điệp Ngọc không nhận ra ý chê bai trong lời nói của Kim Nguyệt Nô, nhưng khi nghe nhắc đến chuyện phòng the, khuôn mặt nàng bất giác đỏ bừng, cổ cũng nóng ran. Hồi lâu sau nàng vẫn chưa thể bình tĩnh lại được, chỉ lí nhí phản bác: “A Bằng ca ca không ngốc đâu ạ.”
Hôm đó về đến nhà, Diêu Điệp Ngọc đã suy nghĩ rất lâu. Kim Nguyệt Nô nói không sai, cho dù chiêu này không thành thì nàng cũng sẽ không vì thế mà mất mạng. Nếu đã vậy, chi bằng cứ thử một lần xem sao.
Quyết định xong, Diêu Điệp Ngọc bèn nói chuyện này với mẹ chồng.
Lữ Sĩ Phương vừa biết có cách cứu được Lữ Bằng thì cũng không do dự nhiều, ngày hôm sau trời còn chưa sáng bà ta đã định đưa nàng đến nha môn cầu xin.
Chẳng may thay, vì một vụ án mà Tri phủ đại nhân đã quay về kinh thành, ngày về chưa hẹn, cũng chẳng biết đến bao giờ mới trở lại.
Vị Tri phủ đại nhân ấy họ Yến, tên Hạc Kinh, năm nay vừa tròn hai mươi lăm tuổi. Diện mạo người đó tuấn mỹ tựa mão ngọc, văn có thể trị quốc an bang, võ có thể bình định thiên hạ, quả là có đôi chút tài cán.
Thế nhưng chàng lại chỉ say mê cái kiếp công tử bột ăn chơi lêu lổng, ngày thường không la cà tới các buổi yến tiệc thịnh soạn để thưởng rượu uống trà, thì cũng tìm đến các gánh hát để nghe người ta xướng khúc, hoặc cùng mấy gã bạn bè xấu rủ nhau đi cưỡi ngựa săn bắn.
Giờ đây chàng đến cái chốn nhỏ bé này nhậm chức Tri phủ, chuyện ăn mặc tiêu xài cũng xa hoa tột bậc.
Chẳng những thế, Yến Hạc Kinh còn là kẻ chẳng hề biết đến khuôn phép là gì. Mấy năm trước, khi lão phu nhân của Yến gia qua đời, dù phải chịu tang nặng, chàng vẫn chê tấm áo đạo bào bằng vải gai trắng khoác trên người trông quá tầm thường, một mực đòi phải thay bằng loại trực thân may từ lụa tơ sống màu trắng thượng hạng.
Đến cả tên tùy tùng của mình chàng cũng bắt đổi sang đạo bào may bằng lụa tơ sống màu trắng, chẳng mảy may e ngại miệng lưỡi thế gian sau lưng đàm tiếu.
Kể về những chuyện Yến Hạc Kinh vượt ngoài khuôn phép thì có lẽ đếm hết mười đầu ngón tay cũng không xuể. Theo quy định thì chính sảnh trong phủ đệ của một vị quan Chánh Tứ phẩm phải là năm gian bảy hàng cột, cổng chính là ba gian ba hàng cột, nhưng Yến Hạc Kinh lại chê chật chội, không thể ở được, bèn chi thêm mấy trăm lượng bạc để mua một tòa lầu sáu tầng làm tư dinh.
Sau đó chàng lại chê trong thành ồn ào náo nhiệt rồi ra ngoại thành, bỏ ra bốn trăm lượng bạc mua một trang viên, sau đó cải tạo thành một vườn cảnh để một mình hưởng thụ. Bất kể là tư dinh hay trang viên, khí thế đều vượt mặt cả vương hầu, vượt xa quy cách về nơi ở dành cho phẩm cấp của mình.