Chương 1

Sương trên lá trúc tí tách rơi, con chó một mình nằm dài trong bóng râm.

Lại một mùa hạ nữa trôi qua.

Trời mùa hạ thời tiết thất thường, tảng sáng nắng vàng vừa kịp rải xuống mặt đất, sau đó một cơn gió chợt thổi qua, chẳng đầy nửa canh giờ sau mây đen đã ùn ùn kéo đến, mang theo hơi ẩm của cơn mưa.

Hôm nay, trong người Diêu Điệp Ngọc vẫn còn đôi chút khó chịu, nhưng nghĩ đến đàn tằm đang kêu ăn đòi lá, nàng vẫn dậy thật sớm, ra ngoài thành hái lá dâu.

Chưa đầy năm ngày nữa là lứa tằm lần này nàng nuôi sẽ nhả tơ đóng kén, mấy hôm nay phải cho chúng ăn uống thật no đủ.

Cũng như mấy hôm trước, Diêu Điệp Ngọc vừa đi hái lá dâu vừa khóc.

Từ lúc ở Tô Châu trở về, Diêu Điệp Ngọc cứ khóc mãi không thôi, nước mắt tuôn rơi tưởng chừng có thể tưới sống cả một cây gỗ khô.

Nàng khóc không phải vì bị người ta bắt nạt ở Tô Châu, cũng chẳng phải chịu ấm ức gì to tát. Ngược lại, ở Tô Châu nàng còn được ăn biết bao món ngon, nào là bánh ốc kem bơ [1] tan trong miệng, mát tận tim gan, nào là ngó sen nhồi nếp dẻo thơm ngọt lịm hương hoa quế, rồi cả bánh đường hoa hồng xốp mềm… Diêu Điệp Ngọc đã được một bữa thỏa thuê, thiếu chút nữa đã tiêu sạch lộ phí về nhà vào mấy món ăn vặt.

[1] Bánh ốc kem bơ: người Tô Châu thời Tống sẽ trộn sữa đông (phô mai) với đường mía, sau đó bắt bông kem xoay tròn để tạo thành hình xoắn ốc làm ra món điểm tâm.

Ở Tô Châu, Diêu Điệp Ngọc quen biết không ít những phụ nhân tốt bụng, lần đầu tiên nàng được trông thấy người phương Tây tóc vàng mắt xanh, nàng còn dùng tiền lẻ mua vài món đồ ngoại quốc kỳ lạ về… Có thể nói chuyến đi Tô Châu này Diêu Điệp Ngọc thu hoạch được rất nhiều.

Nếu không phải trên đường trở về phủ Cửu Giang, nàng đã tận mắt chứng kiến một gia đình dìm chết đứa con gái sơ sinh của mình, thì có lẽ Diêu Điệp Ngọc đã không đổ bệnh triền miên, thân thể cứ yếu khỏe thất thường suốt hai ba tháng trời mới bình phục.

Còn lý do vì sao Diêu Điệp Ngọc khóc, là bởi cuối cùng nàng cũng hiểu ra tại sao tấm vải sa do mình dệt lại nặng gấp đôi của những nương tử khác.

Tương truyền, trong số đồ tùy táng của Tân Truy phu nhân thời Hán có một bộ áo sa trơn, nếu bỏ đi phần viền trang trí thì chỉ nặng chưa đầy một lạng. Lời đồn này vừa lan ra, những loại vải lụa mỏng nhẹ nhìn xuyên thấu thoáng khí lập tức trở thành món đồ thời thượng, trở thành vật phẩm không thể thiếu của giới quyền quý.

Hễ là thứ giới nhà giàu săn đón thì ắt sẽ bán được giá cao. Diêu Điệp Ngọc nhọc công nuôi tằm hơn một tháng trời, lại dốc hết tâm sức, thức trắng bao đêm mới dệt xong một tấm sa mỏng dệt hoa màu hồng phấn pha lục.

Nàng vốn tưởng mang đến Tô Châu sẽ được lòng giới quyền quý, bán được một lượng bạc hoặc hơn, nào ngờ ông chủ tiệm vải lại chê tấm sa của nàng không đủ nhẹ.

Không phải ông chủ chê bai, mà là kinh ngạc: “Vải của nương tử thật sự là dệt từ tơ tằm nguyên chất sao? Tại sao lại nặng gấp đôi so với vải của những nương tử khác vậy?”

Sau sự kinh ngạc lại có chút ngờ vực, ông ta nghi rằng tấm sa của Diêu Điệp Ngọc đã dùng sợi bông để dệt sợi ngang cho đủ số.

Nhưng khi đưa tay sờ kỹ, nhìn kỹ lại thì đúng là không phải dệt từ sợi bông, ông chủ nghĩ mãi không ra.

Tuy tấm sa của Diêu Điệp Ngọc quá nặng, nhưng may là tay nghề dệt rất tinh xảo, đường nét ngay ngắn, màu nhuộm đều đặn hồng phơn phớt, đúng là sắc màu của mùa hạ, lại phảng phất hơi thở của ao sen sau cơn mưa. Cuối cùng, ông chủ ép giá, muốn mua lại với giá sáu tiền [2].

[2] Đơn vị tiền tệ trong truyện này sử dụng song song hai hệ đo lường: Bạc (tính theo trọng lượng) và Văn (tính theo số lượng xu).

1. Hệ thống Bạc dùng cho giao dịch lớn, trả công, mua bán sỉ.

- Lượng: Đơn vị lớn nhất.

- Tiền: Đơn vị phổ biến nhất trong giao dịch trung bình. Quy đổi: 1 lượng = 10 tiền.

- Phân: 1 tiền = 10 phân.

- Ly: Đơn vị nhỏ nhất, 1 phân = 10 ly.

2. Hệ thống Văn dùng cho tiêu vặt, đi chợ hàng ngày:

- Văn: là đồng xu đồng có lỗ vuông ở giữa. Quy đổi: 1 tiền khoảng 100 - 150 văn.

- Quan: 1 quan = 1000 văn (thường tương đương 1 lượng, nhưng thực tế thường thấp hơn, khoảng 0.7 - 0.8 lượng bạc tùy độ nguyên chất).

Sáu tiền!

Một tấm sa trơn thôi cũng đáng giá sáu tiền, huống hồ tấm sa của nàng còn được dệt thêm những hoa văn thời thượng. Trong một khoảnh khắc, Diêu Điệp Ngọc chỉ muốn đập bàn mắng ông chủ là một tên làm ăn gian dối.

Để dệt nên tấm sa này, một nương tử như hoa như ngọc là nàng đã phải hao tâm tổn sức đến mức dung mạo tiều tụy, da thịt hao gầy, quầng mắt thâm đen. Đôi mắt nàng cũng vì thế mà suýt chút nữa mù lòa, vậy mà rốt cuộc cũng chỉ đổi lại được có sáu tiền.

Hừ, thế thì thà cứ dệt sa trơn có khi còn nhanh hơn.

Về sau, quả thực Diêu Điệp Ngọc đã đập bàn, nhưng nàng không hề mắng chửi. Rõ ràng tiếng đập bàn vang đến rung cả vách, rõ ràng đôi mày nàng đã chau lại, gương mặt lộ rõ vẻ tức giận, cơn giận tưởng chừng không thể kiềm chế nổi. Thế mà lúc cất lời, giọng Diêu Điệp Ngọc lại mềm mỏng dịu dàng, chẳng có chút khí thế nào.

Nàng giơ hai ngón tay lên, lắp ba lắp bắp: “T-Tám tiền, thêm hai tiền nữa… Có được không?”

Khi những lời ấy vừa thốt ra, lòng Diêu Điệp Ngọc đã thấp thỏm không yên, trái tim đập loạn xạ nhanh đến mức l*иg ngực dường như không còn chứa nổi khối thịt đỏ bốn lạng ấy, mà là một chiếc trống trận đang nện từng hồi thùng thùng, chực phá tung l*иg ngực mà nhảy ra ngoài.

Diêu Điệp Ngọc sợ rằng nếu đôi bên không vui, cuối cùng đến cả sáu tiền cũng chẳng bán nổi.

Vùng Giang Nam này vốn không thiếu đồ tơ lụa, cứ mười nhà thì có đến tám nhà có nương tử nuôi tằm dệt vải. Lại có không ít nương tử xuất thân từ những gia đình có nghề dệt gia truyền, đời đời nối nghiệp. Chỉ cần ngón tay họ khẽ miết qua một sợi tơ tằm là có thể tách thành mười sáu, mười tám sợi nhỏ, thậm chí còn nhiều hơn thế nữa.

Tuy ngón tay Diêu Điệp Ngọc thon dài khéo léo, ở phủ Cửu Giang, Giang Tây cũng được xem là một nương tử giỏi nữ công, có chút danh tiếng. Nhưng nàng nào dám ngông cuồng tự đại, cho rằng vải mình dệt có thể sánh được với các nương tử ở Tô Châu.