Dưới vệt nắng yếu ớt chiếu xiên xiên chiếc xe bò thong thả tiến về phía trước, bỏ lại những vết bánh xe uốn khúc trên đường đất bùn thôn quê. Con bò già lắc lư đôi sừng, thở ra từng làn hơi như những đốm sương mù trắng.
Khâu Tử chưa kịp ăn sáng, phải đợi đến khi xe chạy êm rồi hắn mới lôi ra một bọc giấy. Ở trong là bánh bao bột ngô đã bẻ sẵn làm đôi, nhồi mầm đậu và dưa chuột muối chua cay.
Hắn cắn một miếng rồi nhân tiện hỏi: “Xuyên ca với ca phu ăn sáng chưa đấy?”
“Ăn rồi, phu lang của ta dậy nấu nướng từ sớm.”
Khâu Tử cười ha ha: “Huynh sướиɠ rồi nhé, có phu lang lo cho, cuộc sống thế là mỹ mãn rồi.”
Thẩm Liễu bị nhắc tới thì ngượng nghịu nói: “Ta cũng chỉ làm được gì thì làm thôi, chủ yếu là nhờ a nương và muội muội quán xuyến phần lớn mà.”
“Chuyện đó thì khác.” Khâu Tử vừa nhai rau đậu mầm rôm rốp, vừa nói: “Người nhà có chu đáo mấy cũng đâu lo đến chuyện trong phòng được.”
Hắn quả thật là người quen ăn nói bỗ bã, tuy câu từ thô thiển nhưng biểu cảm của hắn lại chẳng tỏ ra bậy bạ.
Còn mặt Thẩm Liễu đã đỏ lựng hết cả, Cố Quân Xuyên bèn nhẹ nhàng vỗ vỗ tay cậu rồi nói chuyện với Khâu Tử: “Còn ngươi, bao giờ mới tính chuyện thành thân?”
“Ta đâu có cái phúc đó. Thành thân á? Người ta chê gia cảnh nhà ta nghèo, mà nếu ta có muốn cũng chẳng gom được sính lễ.”
Khâu Tử bắt đầu ăn đến cái thứ hai, làm việc nặng chỉ được cái ăn khỏe, chứ tay chân thường xuyên mệt mỏi rã rời. Cố Quân Xuyên vỗ vai hắn vài cái, chẳng nói gì thêm. Dọc đường ba người chuyện trò thơ thẩn nên chuyến đi cũng không nhàm chán.
Khi họ tới nơi thì trời cũng đã gần trưa, Khâu Tử hiểu chân Cố Quân Xuyên bất tiện nên cố ý cho xe đi xa thêm một đoạn rồi mới thúc bò rẽ đường khác.
Khi hai người xuống xe, Cố Quân Xuyên vừa giúp Thẩm Liễu phủi bụi đường vừa nói: “Khâu Tử ăn nói thiếu ý tứ nhưng bụng dạ không xấu.”
Suốt cả chặng đường có lời tục tằn gì Khâu Tử cứ khơi khơi nói hết, chẳng kiêng dè ai. Những cũng may những lúc Thẩm Liễu lúng túng đều được Cố Quân Xuyên đỡ lời cho, nên giữa họ cũng không đến nỗi gượng gạo.
Thẩm Liễu chỉ nói: “Ta biết, trước kia khi ta theo cha đi vác bao, cũng có mấy người nói chuyện kiểu đó.”
Họ nói lời khó nghe cậu chỉ có thể xấu hổ làm thinh, đều nhờ a cha che chắn cho.
Tay Cố Quân Xuyên khựng lại: “Đi vác bao?”
“Ừm.” Thẩm Liễu gật đầu. “Nhà ta không có ruộng, được mùa thì đi gặt thuê cho phú hộ, mất mùa thì đi vác bao.”
“Vác bao” là phương ngữ ở thôn cậu, tức là đi làm phu khuân vác. Thẩm Liễu hồn nhiên kể lại, còn cười cười: “Ta khoẻ lắm, sau này cha còn vác thua ta cơ.”
Môi Cố Quân Xuyên hơi mím lại, im lặng cúi đầu tiếp tục phủi áo cho Thẩm Liễu. Nhìn bàn tay đầy sẹo của tiểu ca nhi lấp ló dưới vạt tay áo, hắn làm như chỉ thuận miệng hỏi: “Một bao vậy thì được mấy đồng?”
“Còn tùy vào vác gì nữa. Chẳng hạn là ngô nhé, thì cứ tám bao sẽ được một đồng, mỗi ngày ta kiếm được đến tám, chín đồng cơ.”
Gầy yếu như thế, mà một ngày phải gánh mấy chục bao hàng… Hắn đau lòng, trái tim như thể bị một vật nặng đè chặt sắp vỡ tan…
Sau một lúc Cố Quân Xuyên ngước mắt nhìn Thẩm Liễu, khó khăn lắm mới nén được tiếng thở dài, hắn giơ tay vuốt tóc cậu rồi mỉm cười nhẹ nhàng nói: “Tiểu Liễu giỏi thật.”
“Thấy chưa?” Thẩm Liễu vui vẻ: “Cho nên ngươi cứ đưa hòm ta đeo cho, ta làm được mà.”
Cố Quân Xuyên lại nắm lấy tay cậu, gật đầu: “Ừ lần sau ta nhờ em.”
Lời thì nói vậy nhưng Thẩm Liễu đâu hay rằng kể tử đó về sau, chỉ cần có hắn ở cạnh bên thì dù việc nặng gì cũng sẽ chẳng bao giờ đến tay cậu, vì hắn sẽ luôn âm thầm lo hết. Rồi khi Thẩm Liễu hỏi tới, hắn sẽ chỉ cười, xoa đầu cậu rồi nói: “Để lần sau nhé.”
Họ đi thêm một đoạn nữa là đến cầu Quan Âm. Cả con phố này chuyên bán sách, bút mực giấy nghiên vì vậy không giống nơi phố chợ huyên náo, ở đây rất yên tĩnh, thậm chí còn có thể gọi là thanh tịch.
Đá xanh lát đều khắp lối, trên mái ngói xám và tường gạch xanh là những tấm biển bằng gỗ dâu sơn màu nâu. Vài ba học trò mặc trường sam màu lam thong dong dạo bước qua con phố, tất cả đều nói năng lễ độ, phong thái nho nhã.
Đây là lần đầu tiên Thẩm Liễu tới một nơi như thế này, theo bản năng cậu đi nép vào gần Cố Quân Xuyên, hắn cũng nhận ra điều đó nên nắm tay cậu chặt hơn.
Hiệu sách nằm ở đoạn đầu cầu Quân Âm, họ đẩy cửa vào làm tiếng chuông đồng leng ken, mùi hoa thảo của giấy Tuyên lâu năm tràn vào khứu giác.
Nhà ba gian thông nhau, các kệ sách gỗ dựng sát tường, từng tầng đều lót cỏ thơm chống ẩm, ở góc đông nam kê một thư án gỗ lê vàng, bên trên ngổn ngang mấy tập giấy chưa đóng xong thành quyển.
Nghe tiếng động, hỏa kế đang lim dim mới giật mình mở choàng mắt, thấy rõ người tới thì hô lên một tiếng “Cố công tử” rồi vội vã dẫn họ vào trong: “Mời công tử ngồi chờ một chút, ta đi gọi ông chủ.”
Hai người được mời vào gian trong, hỏa kế vừa pha cho họ một ấm trà nhạt để tiếp đãi vừa khách khí mấy câu, rồi sau đó nhanh nhẹn đi gọi chủ hiệu.
Căn phòng họ được mời vào này vuông vắn, lãng đãng mùi trầm hương, góc phòng có kệ gỗ dài ở trên đặt chậu trúc xanh, lá mảnh thả rũ, nhìn vào thấy đã đậm chất thi vị.
Chẳng mấy chốc chủ hiệu bước vào, là một người ngoài năm mươi để hai hàng ria mép mỏng, ông tươi cười: “Ấy, Cố công tử, để công tử đợi lâu rồi.”
Cố Quân Xuyên đứng dậy định hành lễ thì Chu Nhã Phương vội xua tay: “Công tử cứ ngồi đi, xin đừng câu nệ lễ tiết như thế.”
Cố Quân Xuyên không muốn bản thảo bị gấp thành nếp nên cuộn tất cả lại để trong ống tre, lúc chờ người đến hắn đã lấy trải ra vuốt phẳng. Lần này nội dung công việc rất đa dạng: bài sớ tế tổ cho mấy nhà phú hộ, không cần viết chữ cẩn thận quá vì còn phải khắc lên bia đá; có bài chúc thọ viết cho lão gia nhà họ Tần, chữ ngay ngắn trên nền giấy đỏ kim tuyến rất đẹp…
Chu Nhã Phương chỉ xem sơ qua đôi chút liền thu lại một bên luôn: “Ta với Cố công tử quen biết lâu năm như vậy, ta đương nhiên tin tưởng vào tài học của công tử rồi.
Ông nhìn sang Thẩm Liễu, nói tiếp: “Mà nghe đâu trong nhà công tử vừa có hỉ sự, vậy vị này chính là…”
Cố Quân Xuyên gật đầu: “Phu lang của ta.”
Từ lúc ngồi xuống đến giờ Thẩm Liễu đã thấp thỏm không yên đến mức lòng bàn tay rịn mồ hôi. Căn phòng sạch bóng không vương bụi, còn thoang thoảng mùi trầm hương. Nơi này không khỏi khiến một kẻ thôn dã không biết chữ như cậu cảm thấy lạc lõng. Nếu không nhờ người ngồi cạnh thì có lẽ cả đời cậu sẽ không dám đặt chân vào nơi như thế này.
Cố Quân Xuyên cũng nhận ra cậu đang mất tự nhiên, bèn nhẹ vỗ lưng cậu rồi giới thiệu: “Vị này là Chu Nhị gia.”
Thẩm Liễu vội cúi người lễ phép nói: “Xin chào Nhị gia.”