Được ăn no rồi thì lũ gà con chẳng còn náo loạn nữa. Chúng rúc lại với nhau thành từng cụm, những cặp mắt tròn đen nhánh như hạt mè chớp chớp, những chiếc mỏ be bé rỉa lông cho nhau, còn có con lười nhác nằm lim dim.
Thẩm Liễu khom người, dài tiếng xua đàn gà về phía hậu viện. Đám cục lông này được thả ra vườn vài lần nên biết đường rồi, vừa vểnh đuôi vừa quạt cánh tung tăng chạy như bay. Mặc dù hôm trước, a nương và bảo muội đã quây rào lại, lũ gà con cũng đã quen chỗ nên chẳng lo chúng chạy loạn, nhưng vẫn phải tự mình lùa tất cả ra hết sân rồi Thẩm Liễu mới thấy yên tâm.
Mặt trời dần lên cao, vạt sáng vàng óng vắt qua rặng núi, sương sớm cũng từ từ tan hết trả lại trời quang mây tạnh.
Thẩm Liễu quay về phòng củi dọn dẹp. Giỏ trúc toàn mùi gà nên cậu lôi đệm lót ra rũ, sau đó xách cả giỏ lẫn đệm mang đi phơi nắng. Vẫn chưa xong, cậu lại tiếp tục quay lại bắt đầu quét tước, thu dọn và mở cửa phòng cho thông thoáng.
Khi Triệu Xuân Mai đẩy cửa bước ra khỏi phòng thì Thẩm Liễu đã chuyển thêm củi vào bếp xong rồi, giờ cậu đang lúi húi quét sân.
Gió lùa lá vàng rụng đầy đất, cậu đã gom được mấy đống, khi nghe thấy tiếng cửa kẽo kẹt cậu ngoảnh lại chào: “A nương!”
Triệu Xuân Mai sửng sốt một thoáng rồi rảo bước tới gần, nhíu nhíu mày hỏi: “Con dậy từ bao giờ thế?”
Thẩm Liễu gãi gãi má: “Dạ, con cũng mới thức lúc nãy thôi.”
Triệu Xuân Mai tai thính đã nghe ra tiếng gà con chiêm chϊếp từ xa, lại thấy cửa chuồng mở toang, bà mới chép miệng nhẹ quở: “Con ấy, dậy sớm thế làm gì. Nhà mình cũng có mấy việc đâu.”
Thẩm Liễu cắn môi, tay nắm chặt lấy cán chổi.
Trong thôn cậu, dù là nữ tử hay ca nhi phàm đã gả đi thì đều phải lo hết thảy việc trong ngoài nhà. Tuy nương của cậu mất sớm, họ hàng cũng chẳng đủ thân tình mà tới chỉ dạy, nhưng Thẩm Liễu nhớ rõ cảnh nhà hàng xóm cạnh bên: trời chưa sáng đã phải dậy nấu ăn, dọn dẹp rửa bát, giặt đồ cho cả nhà.
Giờ đây được gả vào Cố gia cậu đã chẳng phải làm gì mấy, nếu còn ngủ nướng Thẩm Liễu sẽ thấy áy náy lắm.
Cậu ngập ngừng nói: “Con không biết nương và bảo muội buổi sáng thích ăn gì, nên chưa nấu…”
Hồi đó trong nhà Thẩm Liễu quanh đi quẩn lại chỉ có ngô với khoai, hiếm hoi lắm mới được ít gạo xát dối nguyên cám, do đó thực ra cậu không thạo nấu nướng cho lắm.
Triệu Xuân Mai thở dài: “Không sao, ta nấu cho.”
Bà nhìn cánh tay xương xẩu của Thẩm Liễu, gió sớm lướt qua phả hơi lạnh đến dựng cả lông tơ. Mới hôm kia bà còn đang tính mua vải may thêm áo cho cậu mà ngờ đâu trời trở lạnh nhanh thế này. Nhìn bàn tay chai sần xoa xoa lên cánh tay lạnh buốt, Triệu Xuân Mai lấy cây chổi khỏi tay Thẩm Liễu đem dựng bên tường rồi kéo cậu vào phòng mình.
Đây là lần đầu Thẩm Liễu bước vào nơi này, cậu không dám ngó nghiêng mà chỉ ngoan ngoãn để bà dắt ra ghế ngồi xuống. Trong phòng biện khá giản dị, giường kê sát vách, đối diện đó là tủ dài bằng gỗ táo, giữa phòng đặt bàn vuông và một chiếc ghế.
Triệu Xuân Mai mở tủ tìm đồ cũ cho cậu mặc tạm, cũng nói: “Ta tính mấy hôm nữa ra tiệm mua vải cho con, ai ngờ trời đã trở lạnh nhanh thế.”
“Nương ơi không cần đâu ạ.” Thẩm Liễu nghe vậy vội nói.
Cậu gả sang đây không có hồi môn, y phục hiện tại cũng là Cố gia chuẩn bị cho, vì vậy cậu nào dám hoang phí thêm: “Con mặc thế này là được rồi.”
Động tác của Triệu Xuân Mai khựng lại, bà quay ra thì thấy Thẩm Liễu nhíu mày, thấp thỏm, bất an nhìn bà.
Bà biết Thẩm Liễu là đứa trẻ thật thà, thế này hẳn là không dám tiêu tiền. Vì vậy bà nhẹ nhàng nói: “Đấy là áo mùa hạ, mà thu sắp đến rồi thì cũng nên thay đổi theo chứ. Chẳng phải ở nhà con vẫn làm vậy sao?”
“Không, không phải vậy.” Thẩm Liễu cúi đầu, hai tay lúng túng vò vào nhau: “Ở nhà, con không có…”
“Quanh năm suốt tháng cũng không thay sao?”
Cậu cắn môi, ngượng ngập gật đầu.
Có lẽ thôn Thạch Đông của họ là nơi nghèo nhất vùng này. Ở đấy núi non hiểm trở, đất đã xấu lại còn thiên tai liên miên, vì vậy việc trồng trọt rất khó khăn. Những thửa ruộng tốt đều bị vài phú hộ trong thôn chiếm hết, còn gia đình bần hàn như nhà cậu thì chỉ có thể đi làm thuê để sống, kiếm miếng ăn đã vất vả thì áo ấm là chuyện quá xa xỉ rồi.
Lắm người trong làng chịu không nổi đều đã bỏ xứ đi cầu sinh, nhưng giữa đất trời rộng lớn này kiếm được chốn dung thân đâu phải dễ.
Nếu không vì tiền lo hậu sự cho cha thì chắc Thẩm Liễu sẽ không ra khỏi thôn, không băng qua hai rặng núi để tới trấn Bạch Vân; nếu không nhờ Tô phu nhân dẫn vào thành, cậu nghĩ chắc bây giờ mình vẫn đang quỳ bên ngoài cổng trấn.
Lòng Triệu Xuân Mai lại thấy xót xa, bà hiểu Thẩm Liễu sống nghèo khổ đã lâu, quen thói dè sẻn nên dùng đến thứ tốt sẽ thấy nặng lòng. Bà không nói nữa, chỉ tiếp tục quay vào tủ lục lọi.
“Xuyên nhi cao lớn nhanh quá, hồi trước may đồ cho nó mặc chẳng mấy chốc đã chật.” Triệu Xuân Mai lấy ra hai cái trường sam: “Đều là vải tốt cả, chỉ bị sờn rách một tí ở khuỷu tay thôi. Nếu không chê thì ta vá lại cho con mặc nhé?”
Thẩm Liễu ngẩng đầu, mắt sáng rỡ: “Con không chê đâu ạ! Áo này đẹp lắm.”
Triệu Xuân Mai cười, đặt đồ lên bàn rồi gấp một bên tay áo lại: “Ta sẽ vá chỗ này, sau đó thêu lên một con hổ nhỏ cho con, được không?”
Thẩm Liễu gật gật đầu, dõi theo Triệu Xuân Mai mà trong lòng ngọt chua lẫn lộn, cậu nhớ đến nương của mình. Dù hình ảnh đã sớm nhạt nhòa nhưng tiếng nói cùng hơi ấm trong vòng tay của bà vẫn in sâu vào ký ức của cậu…
Chợt thấy tiểu ca sụt sịt, Triệu Xuân Mai vội để áo xuống: “Sao thế con?”
Không hỏi thì thôi, nhưng đã hỏi rồi thì nước mắt liền trào ra. Thẩm Liễu lắc đầu quầy quậy, rõ ràng cậu đang vui mà sao nước mắt cứ lã chã không chịu dừng, cuối cùng vì xấu hổ quá cậu che hai tay lên mặt.
Triệu Xuân Mai đoán được phần nào tâm tư của cậu, một đứa trẻ thiếu nương từ bé hẳn là chịu không ít tủi thân. Bà quặn lòng, nói: “Con ngoan đừng khóc, từ nay về sau sẽ đều là những ngày yên ổn mà.”
Lòng bàn tay thô mà ấm áp hiền từ đặt lên đầu cậu, tiểu ca nhào vào lòng bà, hai cẳng tay gầy guộc ôm chặt lấy eo: “A nương…”
“Ừ.”
Bà nhẹ vỗ về hai vai run run của Thẩm Liễu. Chờ cậu khóc xong mới dịu dàng nói: “Đi, ra nấu bữa sáng với ta.”
Cậu quệt mắt, đáp: “Vâng, a nương.”