Chương 27

Càng nghĩ, tôi càng thấy lạnh người.

Về đến tiệm cầm đồ, tôi gục xuống mặt quầy, người ngợm rũ rượi như mất hồn.

Lê Thanh Anh rót cho tôi một chén trà, hỏi: “Vẫn đang nghĩ về người đàn bà kia à?”

“Chị Thanh Anh.” Tôi đáp, giọng đầy chán nản: “Em chỉ thấy sợ thôi.”

Lê Thanh Anh vỗ nhẹ lên tay tôi, an ủi: “Đừng sợ, có chị bảo vệ em rồi. Chuyện đêm hôm đó sẽ không xảy ra lần nữa đâu.”

“Ý em không phải vậy.” Tôi lắc đầu: “Sự tồn tại của em đã trở thành mối đe dọa lớn đối với một số người. Cho dù em có tâm muốn dùng sức mình để bẩy tung thế lực hắc ám ở cái trấn Ngũ Phúc này, em cũng lực bất tòng tâm. Em quá bình thường, không biết tu luyện, thậm chí cái mạng nhỏ này còn phải dựa vào công đức của Liễu Quân Diễm mới duy trì nổi. Những gì em thực sự làm được, quá ít ỏi, quá nhỏ bé.”

Cái gọi là chính nghĩa, là sứ mệnh, tất cả đều cần phải có thực lực, có bản lĩnh thật sự mới gánh vác nổi. Mà thứ cô thiếu nhất, lại chính là năng lực.

Đáng sợ hơn là loại năng lực này không phải cứ nỗ lực tu rèn là có được. Đó mới là điều khiến người ta cảm thấy bất lực nhất.

Lê Thanh Anh ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi: “Vậy em có định thỏa hiệp không?”

“Không đời nào.” Tôi trả lời dứt khoát: “Nếu số phận đã định sẵn em phải vùi xác trong mớ hỗn độn ở trấn Ngũ Phúc này, thì điều duy nhất em có thể làm là dốc hết sức mình, xé toạc cái màn đêm này ra một lỗ hổng lớn nhất có thể, để những người bị đè nén dưới đáy vực sâu nhìn thấy được chút ánh sáng hy vọng.”

Lê Thanh Anh lại hỏi: “Tiểu Cửu, em có tin vào số mệnh không?”

Tôi nghiêm túc suy nghĩ một hồi rồi gật đầu: “Chắc là có tin.”

Ngẫm lại mười tám năm cuộc đời, ngay khi chào đời, bà đỡ đã phán một câu "chim Am lẻ bóng mang tang mà đến", khiến cô có nhà mà không thể về rồi bị cầm chết vào tiệm cầm đồ này, âu cũng vì cái mệnh cách Toàn Âm đó.

Mọi thứ cứ như đã được an bài sẵn.

Điều khiến tôi bất ngờ là Lê Thanh Anh cũng nói: “Chị cũng tin.”

Tôi nhìn cô ấy với ánh mắt kỳ lạ. Theo tính cách của cô ấy, lẽ ra không nên tin mới phải.

Lê Thanh Anh chậm rãi nói: “Số phận ấy mà, nó hay trêu ngươi người ta lắm. Có đôi khi em ngỡ mình đã chạm tới đỉnh cao, nó liền giáng cho em một đòn đau điếng, lại có khi em tưởng mình đã lâm vào tuyệt cảnh, nó lại mở ra cho em một đường sống. Lão đạo sĩ kia chẳng phải đã bảo mệnh em có quý nhân phù trợ sao? Chị tin mệnh của em không dừng lại ở đây đâu, chắc chắn sẽ có chuyển biến tốt.”

Lời của Lê Thanh Anh khiến cõi lòng đang bất an của tôi bỗng dưng tĩnh lại. Tôi mỉm cười, vươn tay ôm lấy cô ấy: “Chị Thanh Anh, em mượn lời vàng ngọc của chị vậy.”

Đêm hôm đó, tôi vẫn không đóng cửa tiệm cầm đồ.

Vừa qua mười một giờ đêm, người đàn bà kia lại xuất hiện.

Cô ta kiễng đôi gót sen bé tí bước vào, tay nắm chặt con dao kia, lắp bắp nói: “Cầm... Cầm dao.”

Tôi đã chuẩn bị sẵn tâm thế từ trước, liền lấy phiếu cầm đồ ra, hỏi: “Xin hỏi là cầm sống hay cầm chết?”

Người đàn bà đáp: “Cầm chết.”

Đêm nay, ý thức của cô ta dường như tỉnh táo hơn hai hôm trước một chút.

Tôi lại hỏi: “Cầm bao nhiêu tiền?”

Người đàn bà im bặt, đôi hốc mắt đen ngòm cứ trân trân nhìn tôi. Không biết là cô ta không nói được, hay là chưa nghĩ ra.

Thời gian trôi qua từng giây từng phút, mắt thấy thân hình cô ta lại bắt đầu chập chờn không vững, cô ta bèn giơ tay chỉ về phía tiệm tang lễ, giọng khàn đặc thốt ra một từ: “Nhang.”

Tôi hiểu ý ngay, vội vàng chạy sang tiệm tang lễ lấy một nắm nhang vàng, châm lửa rồi cắm xuống bát hương ngay trước mặt cô ta.

Người đàn bà tham lam hít lấy hít để từng làn khói, nắm nhang vừa châm lên đã cháy rụi xuống tận chân chỉ trong nháy mắt.

Nhang tàn, tôi cũng vừa điền xong phiếu cầm đồ.

Vật phẩm: Một con dao lăng trì.

Giá trị: Một nắm nhang vàng.

Phiếu cầm đồ lập thành hai bản. Tôi đưa bút lông cho người đàn bà, cô ta cúi người, dùng nét chữ tiểu khải thanh tú viết xuống ba chữ "Mai Lâm Sương", rồi ấn dấu tay bằng máu lên đó.

Tôi giao một bản cho cô ta, bản còn lại kẹp cùng con dao lăng trì đưa vào kho.

Làm xong xuôi mọi việc, thân ảnh người đàn bà cũng bắt đầu rung lắc dữ dội. Trước khi bị hút đi, cô ta để lại hai từ cuối cùng: “Sân khấu…”

Sân khấu?

Sân khấu kịch nào cơ?

Cô ta rốt cuộc muốn nói gì với tôi?

Tôi và Lê Thanh Anh trố mắt nhìn nhau.

Người đàn bà xuất hiện ở tiệm cầm đồ là để cầm cố con dao lăng trì này, nhưng mục đích cuối cùng của việc cầm dao là muốn nhờ tôi tìm ra nguyên nhân cái chết, siêu độ cho vong hồn cô ta.

Chẳng lẽ cái sân khấu kịch này có liên quan đến cái chết của cô ta sao?

Nhà trưởng trấn không có sân khấu kịch, điều này tôi dám chắc.

Vậy trấn Ngũ Phúc có sân khấu kịch không?

Những ký ức phủ bụi bỗng chốc ùa về trong tâm trí.

Hồi đó tôi chắc chỉ tầm bảy, tám tuổi. Lúc bà Ngu coi tiệm tang lễ, tôi thường ngồi bên cạnh làm bài tập. Tôi nhớ có một buổi chiều, một bà cụ tóc bạc phơ đến mua áo quan, bà cụ nói chuyện với bà rất lâu.

Bà cụ lúc sinh thời mê nghe kịch, cũng mê hát kịch. Bà ấy muốn sau khi mất được mặc bộ đồ diễn viên mà mình yêu thích nhất để an táng, nhưng con cái không cho. Cuối cùng, bà ấy mới phải đến chỗ bà tôi đặt trước một bộ áo quan.

Hôm đó hình như bà cụ có nhắc đến sân khấu kịch, bảo rằng sân khấu kịch của trấn Ngũ Phúc bị "thứ dơ bẩn" quấy phá nên đã đóng cửa từ lâu lắm rồi. Bà ấy còn kể hồi bé xíu đã từng được theo bà cố vào Sân khấu kịch nghe hát.

Vậy là trấn Ngũ Phúc thực sự có một sân khấu kịch, chỉ là nó đóng cửa quá lâu, đám hậu sinh như chúng tôi chẳng ai hay biết mà thôi.

Tôi cố gắng lục lọi lại cuộc trò chuyện giữa bà nội và bà cụ hôm ấy, tìm kiếm manh mối trong những góc khuất của ký ức.

Sân khấu kịch trấn Ngũ Phúc trong lời kể của bà cụ nằm ở góc Tây Bắc của thị trấn, cách tiệm cầm đồ nhà tôi không xa.

Tôi bật dậy, làm Lê Thanh Anh giật mình thon thót: “Tiểu Cửu, đi đâu đấy?”

“Đi xem cái sân khấu kịch.”

Dứt lời, tôi nhấc chân đi ngay. Lê Thanh Anh vội vàng đóng cửa tiệm rồi đuổi theo.

Đêm đã về khuya, ánh đèn đường vàng vọt, hiu hắt.

Hai chị em cố gắng bước thật nhẹ, nép mình vào những góc tối để di chuyển.

Góc Tây Bắc thị trấn có một bãi rác rất lớn, mùi hôi thối nồng nặc. Khu nhà phía sau bãi rác đã hoang phế từ lâu, trên tường chi chít những chữ "Dỡ bỏ" to tướng được khoanh tròn đỏ chót.

Nhưng nực cười ở chỗ, trấn Ngũ Phúc chỗ nào cũng thấy vẽ chữ "Dỡ bỏ", nhưng chưa bao giờ thấy thực sự giải tỏa.

Trước đây tôi cứ nghĩ do trấn Ngũ Phúc quá hẻo lánh, quá nghèo nàn nên chẳng bõ công phá dỡ. Nhưng giờ xem ra, nguyên do bên trong... e là không đơn giản như tôi tưởng.

Tôi chưa bao giờ đặt chân đến khu này. Điều bất ngờ là giữa một rừng nhà cửa hoang tàn đổ nát, tôi và Lê Thanh Anh lại dễ dàng tìm thấy một căn nhà lớn, trên cửa treo tấm biển hiệu "Đại hội trường trấn Ngũ Phúc".

Căn nhà này chiếm diện tích khá lớn, cửa đóng then cài, bên trên không chỉ phủ đầy bụi bặm và mạng nhện mà còn dán chi chít những lá bùa vàng.

Bùa vàng có lá cũ, có lá mới, chứng tỏ vẫn có người thường xuyên đến đây thay bùa trấn yểm.

Lê Thanh Anh cạy cửa rất nhẹ nhàng, hai chúng tôi len lén chui vào trong.

Dưới ánh đèn pin loang loáng, vừa bước qua cửa, đập vào mắt chúng tôi là một sân khấu kịch cao ngất ngưởng dựng ngay chính giữa đại hội trường.

Xung quanh sân khấu xếp đầy những hàng ghế, đủ để hình dung ra sự náo nhiệt, thịnh vượng thuở nào.

Tôi và Lê Thanh Anh không dám chậm trễ, rọi đèn pin soi xét kỹ lưỡng một vòng quanh sân khấu.

Nhưng nơi này đã bỏ hoang quá lâu, trống hoác, chẳng có gì cả.

Lê Thanh Anh thì thầm vào tai tôi: “Tối quá, chẳng nhìn rõ gì cả. Hay là để mai trời sáng mình lại lẻn vào tìm lần nữa?”

Cũng đành vậy thôi.

Ngay khi hai chị em rón rén định rút lui, thì trên sân khấu bỗng vang lên một tiếng "bịch" trầm đυ.c.

Da đầu tôi tê rần, cùng Lê Thanh Anh ngoảnh phắt lại nhìn.

Trên sân khấu tối tăm, chẳng biết từ đâu hắt xuống một luồng sáng yếu ớt, xiêu vẹo.

Và dưới ánh sáng ma quái ấy, một vạt tay áo nước đẫm máu, chầm chậm, chầm chậm rơi xuống từ trên cao… (*)

(*水袖: tay áo dài của trang phục hí kịch.)