Chương 14

Tôi không ngờ Phó Uyển còn quay lại.

Trông cô ấy rất tệ, hồn phách đã mờ nhạt hơn trước nhiều phần.

Nhưng dù là vậy, chỉ cần cô ấy liều chết đánh cược, thì ngay cả khi tôi có lớp vảy của Liễu Quân Diễm hộ thân, cô ấy vẫn có thể tìm ra sơ hở mà đoạt mạng tôi trong chớp mắt.

Phó Uyển trân trân nhìn tôi, tôi cũng căng mắt nhìn lại, tim như treo lên tận cổ họng.

Ngay dưới ánh mắt dè chừng của tôi, Phó Uyển chợt liếc nhìn chiếc đèn l*иg cung đình sáu cạnh treo dưới hành lang phía Tây.

Ánh mắt ấy dường như chứa đựng một sự quyết tuyệt khôn cùng.

Rồi cô ấy từ từ giơ tay lên, móng tay sắc nhọn cắm phập vào giữa trán, từng chút, từng chút một rút cây đinh quan tài đang găm chặt nơi ấn đường... ra ngoài!

Phó Uyển bị hại từ trăm năm trước, chính cây đinh này đã ghim chết cô ấy!

Đinh quan tài là vật ngưng tụ hồn phách của Phó Uyển, nay rút đinh ra, lại thêm hồn thể liên tiếp chịu trọng thương hôm nay, e rằng chẳng mấy chốc cô ấy sẽ tan thành tro bụi!

Nếu không có gì bất ngờ, cô ấy sẽ chẳng thể nhìn thấy ánh mặt trời ngày mai.

Tại sao cô ấy lại làm vậy?

Trong ánh mắt kinh ngạc tột độ của tôi, Phó Uyển cầm cây đinh nhuốm máu, bước từng bước khó nhọc tiến vào, cuối cùng đặt nó lên quầy.

Cô ấy chống hai tay lên mặt quầy, đôi mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm vào tôi, nhả từng chữ: “Đinh quan tài. Cầm chết. Đổi thư.”

Lúc đó, tôi hoàn toàn ngây người.

Hàng loạt hành động của Phó Uyển đều nằm ngoài dự liệu của tôi.

Cô ấy là hồn thể, thuộc về “cầm âm”.

Cầm âm tất có điều cầu xin, không được từ chối.

Cô ấy dùng đinh quan tài đổi lấy thư, ấy là vật đổi vật.

Nhưng mất đinh rồi, kết cục chỉ có nước tan biến vào hư vô, việc này... việc này có tính là hiến tế linh hồn không?

Tôi không rõ, nhưng tôi hiểu, lá thư đêm nay Phó Uyển nhất quyết phải lấy cho bằng được!

Cô ấy định dốc toàn lực cho canh bạc cuối cùng này sao?

Kẻ thù của cô ấy là con chuột cống to kia, và con chuột lông xám đó cũng chính là hung thủ gϊếŧ hại bà tôi.

Tôi chỉ là người phàm, với khả năng của mình thì chẳng thể nào gϊếŧ nổi con chuột thành tinh ấy, có lẽ mượn tay Phó Uyển cũng coi như tôi báo thù cho bà.

Chỉ là không biết, Phó Uyển liệu có đủ sức gϊếŧ nó hay không.

Dù thế nào đi nữa, theo quy tắc, vụ cầm cố này tôi buộc phải nhận.

Tôi mở ngăn kéo, lấy phiếu cầm đồ, lật đến tờ thứ ba đếm ngược từ dưới lên.

Mài mực, chấm bút lông, tay run run bắt đầu điền.

Phiếu cầm đồ có hai bản, viết xong, tôi lấy ấn triện của tiệm cầm đồ từ ngăn kéo thứ ba ra đóng dấu. Một bản lưu kho, một bản giao cho Phó Uyển.

Cùng lúc đưa cho Phó Uyển còn có lá thư kia.

Phó Uyển nhận lấy thư, mở ra, đôi mắt rỉ máu đọc lướt từng dòng.

Ánh mắt ấy chất chứa quá nhiều cảm xúc hỗn độn. Đọc xong, cô ấy thở hắt ra một hơi dài, ngước lên nói với tôi một tiếng “Cảm ơn”, rồi biến mất vào màn mưa.

Đêm rất tối, rất yên tĩnh.

Dường như chưa từng xảy ra chuyện gì.

Tôi nhìn cây đinh quan tài trên quầy, chợt nhớ ra một chuyện.

Bà từng dặn việc cúng tế ở chính đường không được thiếu, mùng một và rằm hàng tháng phải dùng vật thuần dương hoặc thuần âm để tế lễ.

Cây đinh quan tài trước mắt này chắc chắn là vật thuần âm rồi?

Những món đồ cầm cố trước đây trong tiệm tôi không dám động vào, nhưng cây đinh này là món làm ăn đầu tiên do tôi thực hiện, là đồ "cầm chết".

Cây đinh này, giờ thuộc về tôi!

Xử lý thế nào là do tôi quyết định.

Tôi lấy vài tờ giấy vàng, cẩn thận gói cây đinh lại chạy về phía chính đường.

Tại chính đường, luồng khí đen bao quanh cỗ quan tài đen vẫn còn đó, nhưng đã nhạt đi nhiều.

Bùa chú dán trên quan tài đen cũng rơi rụng bớt.

Tôi đặt đinh quan tài lên bàn thờ, thuận tay rút ba nén hương vàng châm lửa, vái lạy quan tài đen rồi cắm vào lư hương.

Tôi vừa làm xong thì trong chính đường nổi gió.

Ba nén hương cháy nhanh trông thấy, chỉ trong nháy mắt đã tàn thành tro.

Ngay sau đó, cây đinh quan tài trên bàn thờ như bị axit mạnh ăn mòn, dưới cái nhìn chăm chú của tôi từng chút từng chút hóa thành một vũng nước đen.

Không biết có phải ảo giác hay không, nhưng khí đen quanh quan tài dường như lại nhạt đi thêm vài phần.

Chưa đợi tôi kịp phản ứng xem chuyện gì đang xảy ra, bên ngoài bỗng vang lên tiếng thét tuyệt vọng.

Tiếng hét truyền đến từ đầu trấn phía Đông, ngày càng tiến gần về phía Tây.

Tôi vội vàng chạy ra trước xem, rất nhanh đã nghe rõ.

Là giọng của Đậu Phong.

“Thư! Thư!”

“Cô ta đến rồi! Cô ta đến đòi mạng rồi!”

“Cứu mạng! Cứu tôi với!”

...

Cánh cửa nhỏ của Nam thư phòng đã đổ, không còn gì che chắn. Từ xa tôi đã thấy Đậu Phong liều mạng chạy về phía tiệm cầm đồ, vừa chạy vừa la hét.

Sau lưng ông ta dường như có thứ gì đó đang truy đuổi gắt gao.

Bất thình lình, Đậu Phong bị vồ ngã sấp xuống.

Ông ta nằm rạp dưới đất nhưng thân thể lại bị kéo lê ngược về phía sau không ngừng, máu tươi từ dưới thân ông ta trào ra, nhanh chóng bị nước mưa xối rửa.

Ông ta cũng nhìn thấy tôi, một tay cào cấu tuyệt vọng xuống mặt đất, một tay vươn về phía tôi: “Tiểu Cửu... Tiểu Cửu cứu tôi, tôi không muốn chết...”

Lời còn chưa dứt, cả người ông ta đã bị lôi tuột vào bóng tối.

Tiếng thét phát ra trong cơn giãy chết có sức xuyên thấu quá mạnh, tiếng kêu thảm thiết của Đậu Phong vọng khắp trấn Ngũ Phúc, vậy mà chẳng một ai bước ra cứu ông ta.

Cảm giác mang lại cho tôi lúc ấy, cứ như thể tất cả người dân trấn Ngũ Phúc đều biết cơn mưa bão này sẽ mang đến điều gì vậy.

Toàn bộ quá trình diễn ra không lâu, đường phố nhanh chóng trở lại tĩnh lặng.

Không lâu sau, một tiếng gà gáy vang lên.

Trận mưa bão kéo dài hai ngày liền cuối cùng cũng tạnh.

Nước trên mặt đường nhanh chóng rút về con sông phía Tây.

Gió nhẹ thổi qua, bên trong chiếc đèn l*иg cung đình sáu cạnh treo dưới mái hiên phía Tây bỗng lóe lên một đốm sáng xanh lục u ám.

Như đom đóm mùa hạ, lúc tỏ lúc mờ.

Chiếc đèn l*иg sáu cạnh này treo dưới hành lang không biết bao nhiêu năm rồi, chưa từng sáng đèn.

Tại sao?

Lẽ nào là... hiến tế linh hồn!

Tôi chợt nhớ lại trước khi rút cây đinh giữa trán, Phó Uyển đã quay đầu nhìn chiếc đèn l*иg ấy một cái.

Hành động nhỏ nhặt đó lúc ấy với tôi hoàn toàn vô nghĩa.

Nhưng giờ, tôi đã hiểu.

Phó Uyển dùng chính hồn phách mình hiến tế cho đèn l*иg sáu cạnh, hoàn thành nghi thức hiến tế linh hồn.

Và với tư cách là chưởng quầy hiện tại của tiệm cầm đồ, tôi phải giải oan cho cô ấy, hoàn thành việc độ hóa!

Dù là đến khi nào đi nữa.

Tôi đứng ngẩn ngơ ở đó, hồi lâu không thể bình tĩnh.

Không biết qua bao lâu, trên đường phố dần có tiếng người, có ánh đèn pin loang loáng.

Tôi quay đầu nhìn về phía đó, bắt gặp ngay đôi mắt trừng trừng của Đậu Phong dưới ánh đèn.

Một cây đinh quan tài găm sâu vào giữa trán ông ta, máu tươi men theo sống mũi chảy ròng ròng, vừa tanh tưởi vừa dữ tợn.

Tôi thực sự bị dọa sợ, toàn thân run rẩy.

Phó Uyển đã gϊếŧ Đậu Phong, chứ không phải con chuột tinh kia.

Đậu Phong phút cuối cầu cứu tôi... liệu ông ta có chết oan không?

Nếu là chết oan, vậy thì tôi chính là kẻ đầu sỏ dung túng cho Phó Uyển gϊếŧ người...

Đây là lần đầu tiên tôi trải qua chuyện như vậy, nhất thời không thể nào chịu đựng nổi.

Tôi bắt đầu rơi vào sự tự hoài nghi.

Hai chân tôi mềm nhũn, bước chân loạng choạng ngã về phía sau.

Đúng lúc này, một cánh tay rắn chắc vòng qua người tôi, lưng tôi chạm vào một l*иg ngực rộng lớn. Khoảnh khắc tiếp theo, cả người tôi được ôm trọn, hơi thở ấm nóng phả lêи đỉиɦ đầu.

Giọng đàn ông trong trẻo, lạnh lùng vang lên: "Tiểu Cửu, đừng sợ."