Thịnh thị nhẹ nhàng hỏi: "Những vết thương này... là từ đâu mà ra vậy?"
Kỷ Lan Chỉ cảm thấy những vết sẹo trên tay mình thật xấu xí, nàng rụt tay lại, giấu vào tay áo đã cởi ra, ngượng ngùng cười: "A nương thích con trai, Chi Chi lại không phải con trai, nên a nương tức giận..."
Kỷ Lan Chỉ khi còn bé căn bản không biết làm thế nào để đáp ứng ước nguyện của mẫu thân, nàng luống cuống bị đánh, rồi lại luống cuống được mẫu thân tỉnh táo ôm vào lòng. Nàng nhịn đau, còn phải lau nước mắt cho mẫu thân, nói với bà: "A nương đừng khóc, a nương khóc, Chi Chi cũng muốn khóc."
Thịnh thị vốn là người mềm lòng, bà nghĩ đến Kỷ Lan Chỉ tuổi còn nhỏ đã phải chịu nhiều khổ sở, tất cả là do bà, vị chủ mẫu cai quản gia đình đã không chu toàn.
Thịnh thị rơi lệ, ôm Kỷ Lan Chỉ vào lòng.
Thịnh thị ôm nàng thật ấm áp, khẽ vỗ về lưng Kỷ Lan Chỉ, dỗ dành: "Chi Chi đừng sợ, sau này ta sẽ là A nương của con. A nương không thích con trai, A nương chỉ thích những bé gái xinh đẹp như Chi Chi thôi."
Sống mũi Kỷ Lan Chỉ cay xè, những giọt nước mắt lớn thi nhau rơi xuống, trong lòng nàng vô cùng vui sướиɠ, khẽ dụi mặt vào người Thịnh thị.
Khi đó Kỷ Lan Chỉ còn quá nhỏ, nàng căn bản không thể hiểu được, vì sao buồn cũng khóc, mà vui vẻ cũng khóc.
...
Đêm đó, Kỷ Lan Chỉ nhớ lại chuyện cũ, nàng giật mình tỉnh giấc, bụng dưới âm ỉ đau.
Kỷ Lan Chỉ mang thai nên thân thể nặng nề, ban đêm khó ngủ, nhưng nàng không hề oán thán, khẽ gọi Vương bà tử đang nhắm mắt dưỡng thần ở chiếc giường trúc trước bình phong, bảo bà ta xem thử có phải thân thể nàng có vấn đề gì không.
May mắn thay, Kỷ Lan Chỉ chỉ là bị kinh hãi nên gặp ác mộng, uống canh ngọt bổ khí an thần xong, nàng lại chìm vào giấc ngủ.
Vào những ngày tháng Chạp rét buốt, bên ngoài trời đổ tuyết lớn, những bông tuyết dày đặc phủ kín cửa sổ, trắng xóa như những cụm lau sậy.
Kỷ Lan Chỉ rõ ràng đang nằm trong ổ chăn ấm áp, mềm mại, nhưng vẫn cảm thấy tay chân lạnh giá. Nỗi nhớ Thịnh thị da diết cồn cào, nàng muốn trở về nhà rồi.
Kỷ Lan Chỉ không muốn Thịnh thị phải chịu tủi nhục, cũng không cam tâm sống những ngày tháng khổ sở này nữa. Nàng phải trở về Hầu phủ, phải gả cho một người chồng quyền cao chức trọng, có thể phong thê ấm tử, khiến Kỷ Hầu gia phải kiêng dè, để Thịnh thị ngẩng cao đầu mà sống...
...
Gần đây, Tạ Lận đã điều tra ra lai lịch của đám phản đảng cấu kết với hải tặc.
Tiên đế phong đất lập quốc cho các hoàng tử, Ngô vương vâng mệnh đến phiên địa, trấn giữ biên thành phía bắc. Bề ngoài, Ngô vương chưa từng hồi kinh, một lòng bảo vệ biên cương, chu toàn trách nhiệm. Nhưng thực chất, hắn đã sớm nắm giữ chiến tuyến tây bắc, lôi kéo các bộ tộc Nhung Địch, kết thành liên minh, binh hùng tướng mạnh gần mười vạn, nuôi mộng xâm lược Trung Nguyên.
Ngô vương sớm đã có ý mưu phản, hắn nhẫn nhịn nhiều năm, cuối cùng cũng không thể kìm nén được lòng phản trắc.
Đúng lúc mất mùa đói kém, quan lại địa phương vì cầu công danh mà ngang nhiên bóc lột, ép bách tính nộp thuế nặng nề để bù đắp vào khoản thuế má thiếu hụt. Bách tính không có lương thực, không có ruộng đất, gặp phải nạn đói, chỉ còn cách trở thành lưu dân phiêu bạt, ngày tháng khổ không kể xiết.
Các châu phủ xa kinh thành, hoàng đế khó bề đoái hoài, không thể kịp thời cứu trợ, phát lương, an ủi bách tính.
Hoàng đế mất lòng dân, chính là thời cơ tốt để Ngô vương khởi sự.
Ngô vương cố ý mua chuộc quan lại địa phương, xúi giục lưu dân và thổ phỉ ở Trung Châu gây rối, chờ triều đình phái binh về phía nam, để lộ sơ hở phòng bị biên giới. Sau đó, hắn thông đồng với Bắc Nhung, thừa lúc các trấn phiên không phòng bị, dẫn quân nam hạ, phá quan nhập cảnh.
Đến lúc đó, quân tiếp viện của triều đình dù có đến phía bắc cũng đã là nỏ mạnh hết đà, Ngô vương đã sớm chiếm đóng các châu phủ biên thành, độc chiếm kho lương ở chiến tuyến tây bắc. Đến khi binh hùng lương đủ, Ngô vương có thể tiến thẳng kinh thành, thực hiện mưu đồ soán ngôi đoạt vị.