Chương 20

Lâm Phi Ngư cảm thấy người lớn thật kỳ quặc, lúc nào cũng thích tìm cách đuổi trẻ con đi để nói chuyện. Thế là cô bèn vòng lại.

Trong phòng ngủ, giọng mẹ vang lên, rõ ràng đã cố nén nhưng vẫn còn rất kích động.

“Ai cũng nói anh có bốn người bố mẹ, nhưng theo em thấy còn chẳng bằng không có lấy một ai. Cả hai cặp đó cộng lại cũng không được nửa người ra hồn, toàn một lũ không ra gì!”

“Anh cản em cũng vô ích, hôm nay mà em không nói ra, Tết này em nuốt không trôi! Năm đó rõ ràng là bố mẹ ruột anh đem anh cho bác cả nuôi, bây giờ họ lấy tư cách gì mà bắt anh phải hiếu kính, còn muốn anh nhường việc cho thằng em trai kia? Còn nhà bác cả nữa, từ đầu đến cuối họ đâu coi anh là con, mà lại bắt anh coi họ là người thân. Con gái họ lấy chồng, tại sao lại bắt chúng ta phải tặng máy khâu và đồng hồ? Chẳng lẽ chỉ vì họ mặt dày, chỉ vì họ không biết xấu hổ sao?”

“Còn nữa, chúng ta lì xì cho Nhã Tư và Hữu Bân mỗi đứa một đồng, thế mà bốn ông bà đó lì xì cho Phi Ngư hai đồng tiền xu. Ngay cả con sẻ cũng phải gọi họ một tiếng bậc thầy ki bo, toàn một lũ trơ tráo, tức chết em rồi!”

“Là anh có lỗi với em, Lan Chi! Vì theo anh mà em phải chịu khổ.”

“Anh nói gì thế, có phải lỗi của anh đâu. Người cần nói xin lỗi là bọn họ, dựa vào cái gì mà họ đối xử với chúng ta như vậy, dựa vào cái gì họ đối xử với anh như vậy...”

Trong phòng vang lên tiếng mẹ cô nức nở nghẹn ngào, xen lẫn giọng bố cô nhẹ nhàng an ủi.

Thường Hoan tay trái cầm bánh chiên giòn, tay phải cầm bánh trứng chiên từ nhà mình đi ra, đã thấy Lâm Phi Ngư đứng ngẩn tò te ở cửa, bèn rủ: “Có muốn đi đánh Tiền Quảng An với tớ không?”

Từ sau khi bị Tiền Quảng An bước qua đầu, sinh hoạt thường ngày của Thường Hoan đã biến thành ăn cơm, ngủ, rồi đánh Tiền Quảng An.

Lâm Phi Ngư lắc đầu: “Nếu cậu ghét một người mà đánh không lại, thì còn cách nào khác không?”

Thường Hoan nhai bánh tráng rốp rốp, nghĩ ngợi rồi nói: “Nhổ nước miếng vào cốc trà của đối phương. Tớ thường xuyên nhổ vào cốc của chị tớ...”

Lâm Phi Ngư lập tức trừng mắt, vội vàng nháy mắt ra hiệu bảo cô im ngay.

Nhưng Thường Hoan chẳng hiểu gì, cái miệng vẫn bô bô: “Cái đồ ruột thừa Thường Mỹ đã uống không biết bao nhiêu ngụm nước miếng của tớ. Thế mà không biết gì, buồn cười chết đi được...”

Chưa dứt lời, cô bỗng thấy sau lưng lạnh ngắt, quay ngoắt lại thì bắt gặp ánh mắt muốn gϊếŧ người của Thường Mỹ.

Thường Mỹ nghiến răng gằn từng chữ: “Cái đồ bụng chó chứa không nổi hai lạng dầu vừng, Hôm nay! Mày! Chết chắc rồi!”

Rất nhanh, hai chị em khai hỏa trận chiến đầu tiên của năm mới, thảm khốc chưa từng thấy.

Đương nhiên, cái “thảm” này chỉ áp dụng với Thường Hoan, cô bị giật mất một nắm tóc, một mảng đầu trụi lủi ngay tức khắc.

Vì thế, Thường Hoan khóc suốt ba ngày liền.

Mùng Hai Tết, Lâm Phi Ngư theo bố mẹ đến thăm ông ngoại và bà ngoại kế.

Họ mang theo năm hộp đồ hộp, một cân lạp xưởng và một phong bao hai mươi đồng. Ông ngoại và bà ngoại kế nhận đồ nhưng không giữ họ lại ăn trưa. Về đến nhà, mẹ cô lại khóc một trận.

Trong danh sách “phỉ nhổ” của mình, Lâm Phi Ngư lặng lẽ thêm tên ông ngoại và bà ngoại kế.

Mùng Ba Tết, hàng xóm trong khu tập thể bắt đầu qua lại chúc Tết.

Nhưng Lâm Phi Ngư vẫn không đợi được bà nội đến Quảng Châu thăm cô.

Dưới sự giúp đỡ của bố, cô viết một bức thư cho bà, kèm theo những viên kẹo cô cất giữ đã lâu cùng tiền mừng tuổi rồi gửi đi. Cô tưởng tượng ra dáng vẻ vui mừng của bà khi nhận được thư và kẹo, nghĩ đến đó mà tự mỉm cười. Nhưng đêm hôm ấy, trong mơ, cô lại khóc rất lâu.

Cô thật sự rất, rất, rất nhớ bà.

Tết vừa qua, mọi người lại quay về nhịp sống thường ngày.

Một hôm, Lâm Phi Ngư đi học về thì thấy chiếc máy khâu cũ trong nhà biến mất, ngay cả hộp kem dưỡng da và dầu gội hiệu Hải Âu trên bàn của mẹ cũng không còn. Sau đó suốt một thời gian dài, cô không nhìn thấy nụ cười nào trên gương mặt mẹ.

Năm 1974, ga xe lửa Quảng Châu được khánh thành, diện tích hơn sáu vạn mét vuông, còn có cả thang cuốn hiện đại, người ta chỉ cần đứng yên là có thể lên tầng. Toàn thành phố đều kinh ngạc, ùn ùn kéo nhau ra ga tàu xem thang cuốn như xem khỉ.

Lâm Phi Ngư cũng được bố dẫn đi, về nhà khoe khoang với đám trẻ trong khu tập thể rất lâu.

“Các cậu chắc chưa biết thang cuốn trông thế nào đâu nhỉ? Tớ kể cho mà nghe, chính là cái thang máy có hai tay vịn màu đen hai bên, người đứng lên trên chẳng cần động đậy, thang tự đưa mình lên tầng, thần kỳ lắm.”

“Còn nữa, ở chính giữa phía ngoài có một cái đồng hồ cực kỳ to, bố tớ nói cái đồng hồ đó cao hơn bốn mét cơ!”

“Nhưng mà xếp hàng lâu lắm, tớ với bố phải đứng cả buổi mới đến lượt. Bố tớ còn nói chờ lúc nào bớt người sẽ lại dẫn tớ đi lần nữa.”

“Wow, bố cậu thật tốt, tớ cũng muốn được đi thang cuốn, còn muốn nhìn cái đồng hồ lớn kia nữa, nhưng bố mẹ tớ không chịu dẫn đi, họ nói xếp hàng phiền phức lắm.”

“Bố mẹ tớ cũng chẳng có thời gian dẫn tớ đi...”

Mọi người đều rất ngưỡng mộ Lâm Phi Ngư, chỉ có Tiền Quảng An bĩu môi khinh bỉ: “Bà tớ nói thang máy có chạy mất đâu, mấy đứa vội vàng chen đi xem đều là đồ ngốc!”

Thực ra Tiền Quảng An rất muốn đi, nhưng người lớn trong nhà đều bận. Chỉ có bà nội rảnh rỗi, mà lưng bà lại không chịu nổi cảnh phải đứng xếp hàng mấy tiếng đồng hồ.

Chưa kịp để Lâm Phi Ngư phản bác, Thường Hoan đã nhanh tay búng cho cậu ta một cái vào trán: “Không ăn không được phân thì bảo phân thối, Tiền Quảng An, cậu không thấy xấu hổ à?”

Tiền Quảng An tức đến nỗi gào ầm lên: “Thường Hoan, đồ nấm lùn, cậu lại đánh tớ!”

Thế là chọc phải ổ ong vò vẽ, Thường Hoan xông lên: “Đồ mập thối, ăn đấm của tớ đây!”

“Thường Hoan, đồ khoai lang mục [1], mau buông tớ ra...”

Lâm Phi Ngư nhìn hai đứa đang lăn lộn đánh nhau dưới đất, rất muốn nhắc rằng câu đúng phải là “Không ăn được nho thì bảo nho chua”, chứ đâu phải “không ăn được phân”.

Nhưng rõ ràng hai đứa đang quấn lấy nhau kia chẳng rảnh mà để ý mấy chi tiết này.

Mùa hè năm 1975, Lâm Phi Ngư đã về Quảng Châu tròn hai năm. Cuối cùng cô cũng sửa được giọng Ngô Châu thành giọng Quảng Châu, từ cô bé da đen tóc ngắn biến thành một cô gái nhỏ xinh đẹp, tóc dài đen mượt, da dẻ trắng trẻo.

Quảng Châu từ năm 1972 đã đổi hệ trung học thành chế độ 3-2, tức là ba năm trung học cơ sở, hai năm trung học phổ thông.

Trước khi nghỉ hè, hiệu trưởng gọi Lâm Hữu Thành lên văn phòng, rồi thông báo để anh dạy lớp cuối cấp vào học kỳ mới. Lâm Hữu Thành vừa kinh ngạc vừa vui mừng.

Thời ấy không được thi đại học, nhiều học sinh lên lớp cuối cấp đã bắt đầu lơ là, chỉ mong sớm tốt nghiệp để vào nhà máy. Nhưng Lâm Hữu Thành thật lòng yêu nghề dạy học, vì thế anh vui vẻ nhận thử thách này.

Ngược lại, bên phía Lý Lan Chi thì không được may mắn như vậy. Cứ tưởng có danh hiệu “Lao động tiên tiến” rồi thì việc thăng lên thợ bậc cao sẽ dễ dàng hơn, thế mà hai năm trôi qua, cô vẫn chỉ là thợ bậc trung.

Vận may của cô dường như lúc nào cũng kém một chút.

Nửa tháng sau sinh nhật của Lâm Phi Ngư, tức ngày mười tám tháng tám, chú út Lâm Hữu Bân bất ngờ tìm đến tận nhà.

Chú thích của tác giả:

[1] “Đồ khoai lang”: tiếng Quảng Đông chửi người, “khoai lang” chỉ người đầu óc chậm chạp, giống như “ngu như heo”.