Chương 14

HỒI I

Ai đã chưa một lần nghe qua sử thi Vladimir? Hãy ngồi xuống một nơi yên ắng và nghe những lời kể ngọt ngào nhất, cay đắng nhất. Không khác gì mọi khi, lúc cánh cửa phòng trong ngôi nhà nhỏ dần khép lại, có lẽ một ngày hạnh phúc nữa của con người đang bắt đầu trở thành một phần của ký ức nào đó, hừng sáng mãi hay chìm dần vào lãng quên. Hãy viết nên câu chuyện cho riêng mình, không sợ hãi, và không đắn đo.

Trên vách tường xứ sở đã phủ đầy rong rêu, và những bậc thềm đá nhạt màu vì ánh sáng và nắng gió, dấu chân của người Noãn Đà La còn in chặt không rời, như người con yêu mến, không rời xa quê hương đất mẹ. Thượng Đế đã lấy đi những thứ mà ngài muốn, và ngài đã để lại những gì mà ngài vẫn tạm thời chưa muốn. Trên cánh đồng Lúa Chết cỏ cháy xém, cuộc hành quân của vua Karyimar làm hoa màu không thể nở rộ suốt nhiều năm. Trái lại, nơi đây đã chứng kiến sự sinh trưởng của nhiều loài linh mộc, hay như loài Bạch Dương già dặn, cằn cỗi dưới sự gieo mầm của cái ác.

Ta hãy bắt đầu câu chuyện bằng một buổi chiều vàng nhạt nắng ở đất Littleland, một vùng đất nhỏ nằm giáp biển và trải dài dọc bờ Nam thành Alnimar Firis. Trong một ngôi nhà nhỏ vùng Berryfield của Niranda, một cậu bé mười hai tuổi đang ngủ cạnh chuồng ngựa, những đàn cừu và ngựa non đã ngủ say, ánh đuốc chập chờn dưới sảnh nhỏ chỉ đủ làm bóng đêm không chế ngự.

Thân người nhỏ gầy, và mái tóc đen cháy có xen xen màu vàng đất, làm cho cậu điển trai và khôi ngô hơn rất nhiều so với chừng ấy tuổi. Trái lại, gương mặt vuông của cậu lúc nào cũng dính phải lọ nồi do thói ăn trộm bánh mì ở ngôi nhà ngay sát cạnh ngôi nhà của cậu, nhà của thằng mập Wili, con lão Leggot.

“Nếu ngày mai bầu trời không còn ánh sáng, thì con người sẽ biết lấy gì để soi sáng đường đi nhỉ?”, cậu tự nhủ. “Trái tim của cậu ấy!”, một giọng nói khàn khàn đáp. “Ai đó? Ai vừa nói chuyện với tôi vậy?”, Niranda đứng hình. “Mau ra mặt đi đừng lẩn trốn đằng sau giọng nói ấy!”, Niranda ngạc nhiên, cậu nhìn qua ngó lại chẳng thấy nổi một ai. Thế giọng nói kia từ đâu phát ra? Loay hoay và loạng choạng một hồi, Niranda mới phát hiện ra sát bên cậu có một cái chuồng ngựa, và chỉ duy nhất có một con ngựa đốm vẫn đang nhìn chằm chằm vào cậu. Cậu nhấc một chân gác chúi xuống, đi tò tò đến con đường nhỏ thông với căn nhà sát chuồng ngựa. Phòng chứa Blurry, một phòng bí mật do cậu dựng nên để cất giấu đồ ăn, dự trữ nguyên liệu. Ở đó có cái mương nhỏ mà lão nông dân Leggot xây nên, luồng sang nhà của Niranda, mặt đất tết lại do nước chảy trượt qua hai bên tạo ra một hình tam giác có đỉnh tù. Vì thế mà bụng mương trở thành một cái rãnh lớn nằm sâu lẩn dưới mặt đất. Dân Lordfeld Sha sau này gọi là đường nước chảy Sheyland. Nhờ có đường nước ngầm mà tổ tiên của Lordfeld Sha dễ dàng vận chuyển được những trái thông Riogaw và những tĩnh rượu gỗ sồi Milar hảo hạng chứa ở hầm rượu xứ Tigor thuộc Lordfeld.

“Mày có biết ai vừa đáp lời của tao không đồ ngốc?”, cậu bé Niranda hí hỏm hỏi con ngựa đốm. “Quả thật căn phòng này chỉ có mình tao biết! Bí mật nhé đồ ngốc!”, cậu cười cười. “Là tôi vừa đáp lời cậu đấy!”, con ngựa đáp. Niranda la oảng lên một cái và ngã độp ra đằng sau, tủ đồ ăn cạnh mương đổ ngập bánh mì lúa mạch và cá hấp trên sàn nhà. Cậu cố lật người ngồi dậy nhưng không được, đôi chân trần ngửa lên trần. Đầu cậu đập nhẹ trên mương nước, ướt nhẹp tóc. “Lão Leggot đáng ghét!”, cậu mắng. “Sao lại đi xây một cái mương vô dụng ở trong căn nhà này chứ?”, Niranda vẫn nhai xuôi nhai ngược câu nói ấy. Con ngựa đốm dí dỏm, móng lộp cộp, chân đi đến.

Nó nguệch ngoạc cái miệng kéo cây gỗ mục đang chắn ngang cửa chuồng ra khỏi, mở khóa thành công, và từ từ tiến đến giúp Niranda ngồi dậy đàng hoàng. Cậu phủi phủi mớ mạt rơm và vụn bánh mì dính trên áo, và khi ngước lên chỉ thấy toàn là miệng ngựa. “Mày… à không! Ngươi vừa nói chuyện với ta sao?”, Niranda hỏi. “Nhưng mày là ngựa mà!”, cậu vẫn thảng thốt. “Không phải tôi, mà tất cả loài ngựa chúng tôi đều có thể nói chuyện được với cậu!”, con ngựa đáp. “Sao lại thế được? Đây chỉ là mơ thôi mà nhỉ? Mình sẽ tỉnh lại ngay sau một giấc ngủ!”, Niranda nói. Con ngựa gặm một con cá hấp ra khỏi quần cậu và nhai ngồm ngoàm. “Ngựa ăn cá?”, Niranda hỏi. “Tại sao không? Trên thế giới mà cậu sống, chuyện gì mà không thể xảy ra được cơ chứ?”, con ngựa nói.

Niranda nằm ành ạch, lưng tựa xuống, và nhắm nghiền mắt lại, miệng nhẩm nhẩm chỉ để trấn an lòng, một lát sau mở mắt ra, cậu vẫn thấy con ngựa đốm đang nhìn cậu. Có vẻ cậu đang dần chấp nhận hiện thực rằng con ngựa đó đang cố nói chuyện với cậu. “Tôi nghĩ, chắc hẳn là một Tali A đã làm điều đó!”, con ngựa nói. “Điều gì?”, Niranda hỏi. “Khi sự cuồng nộ của vua Karyimar làm hoen ố cả vùng Littleland này, có lẽ Thượng Đế đã ra lệnh cho một Tali A giáng thế, và Tali A đã làm điều đó!”, con ngựa đáp. Niranda vội ra mương nước, nhúng đầu ướt hết mặt, và cậu dùng ruột bánh mì để lau sơ. “Xin lỗi! Tôi vẫn chưa biết được điều đó nghĩa là sao?”, Niranda vẫn khó hiểu. “Tali A là một vì sao trên trời. Cậu hãy ngước mắt lên xem, có rất nhiều Tali A trên đó. Tali A đã giúp cho cái thiện như cậu và tôi có thể giao tiếp được với nhau, và cái ác cũng thế… có lẽ là do Tali A ác đã làm điều đó!”, con ngựa đáp.

Niranda nhượng cằm một lát, cậu đứng lên gãi đầu, xoay một vòng nhỏ quanh mương nước để định hình sự việc đang diễn ra. Cậu ra khỏi mương và phòng Blurry để đi vào trong nhà, nhóm một lò củi sưởi ấm, kì lạ là khói không ra khỏi ống khói. Niranda cắt vài mẩu bánh mì lúa mạch để nhai và giữ hàm không run lên, vì cậu đang run cầm cập. “Có lẽ là một ảo giác khác ư?”, Niranda tự nhủ. “Không thể nào, mình vẫn đang sống.”, cậu cố chấp. Cậu bé Niranda vẫn chưa hoàn hồn sau khi nghe những lời con ngựa đốm đã nói. Cửa phòng Blurry he hé, ngọn lửa trong lò củi bập bùng hắt lên, dáng đi của con ngựa dài ra trên tường, trông như một kẻ khổng lồ tứ chi bao trùm kín cả căn nhà nhỏ nhắn. Ngựa đốm thong thả bước vào trong, móng nó gõ lên tủ đồ ăn kẽo kẹt nghe như một mảnh gỗ báo hiệu rằng sắp gãy. Nó liếʍ một khay cacao nguội để ở giữa nhà, ngọt ngào ở kẽ răng và nướu, lần đầu tiên nó nếm được một vị ngọt ngon như thế. “Cacao ở đâu mà ngon vậy?, con ngựa hỏi. “Ở rìa ngoại ô Berryfield.”, Niranda đáp. “Món này làm lưỡi của tôi cứng lại và khó nói!”, con ngựa than.

“Niranda, cậu không chỉ là một đứa trẻ chăn cừu như bao người. Cậu là người mà Tali A đã chọn.”, nó chậm chạp nói. “Tại sao lại là tôi? Tôi chỉ là một kẻ tầm thường, sống ở vùng đất bị bỏ quên Berryfield xứ Littleland này mà thôi!”, cậu bé ngẩng mặt, đôi mắt mở to. “Có lẽ mày… à không… ngươi lầm người rồi thì phải.”, cậu nói tiếp. Khay cacao rơi xuống đất, rỗng tuếch, con ngựa đốm lắc đầu nhẹ. “Bởi vì ở đất Littleland này, chỉ có trái tim cậu là sáng hơn ngọn lửa của lò sưởi kia, và nó còn bền bỉ hơn cả những viên đá mà Noãn Đà La để lại phủ rong rêu trên tường, đó là thứ mà chúa tể bóng tối không thể che lấp.”, con ngựa đáp, đôi mắt sáng lấp lánh như ánh sao rơi xuống. “Chúa tể bóng tối?”, Niranda ngạc nhiên. “Phải! Sắp rồi! Không còn lâu nữa đâu! Không còn nhiều thời gian cho cậu!”, con ngựa hí hửng nói.

Trên nền nhà của phòng chứa Blurry có một khe hở phía bên phải góc tủ, và nó đủ cho vầng trăng kia và mặt trời của Thượng Đế soi vào. Ánh sáng trên góc tủ đồ ăn khi gặp được lửa trong lò sưởi như một lưỡi gươm chiến trận ghim vào đầu một con quỷ Orzi đang nóng giận. Niranda khóa cửa phòng Blurry, cậu vẫn siết chặt mẩu bánh mì trong tay, ngón cái đặt gãi gãi trên đầu có vẻ suy đi tính lại. Cậu vừa có cảm giác hào hứng, vừa lo sợ, như thể cả thế giới chứ không chỉ riêng Littleland đột nhiên đặt gánh nặng lên đôi vai xuôi của mình. “Mình dữ dội và ghê gớm đến vậy ư?”, lỗ mũi cậu nở ra, sắp rơi mất. Đột ngột ở bên ngoài ngôi nhà, có một tiếng động lạ, như thể có kẻ đang rình trộm, con ngựa đốm giả vờ dè chừng để quan sát, nhưng nó chẳng gặp được ai. Cơn gió ẩm mốc vùng Littleland thổi mạnh, rát da người, mang mùi khói lửa ngoài chiến trận xa xăm ngự đến. Trên cao, giữa vầng trời đêm Berryfield không có gì thay đổi, một vệt sáng đỏ rực lóe lên rồi chập chờn biến mất.

“Thấy chưa Niranda? Đó là dấu hiệu rõ rệt của một Tali A ác. Vua Karyimar chưa bao giờ muốn dừng việc gϊếŧ chóc. Hắn chắc hẳn là đang chuẩn bị một cuộc hành quân mới, và Littleland sẽ một lần nữa chỉ còn là vùng đất chết.”, con ngựa đốm nghiêm nghị. “Vậy tôi… tôi phải làm gì?”, Niranda rùng mình. Cậu đứng lặng thinh, không một cử động ngoài ánh mắt lia lịa. “Tôi đơn độc!”, cậu rêи ɾỉ. “Cậu phải rời khỏi Littleland. Ở phía Đông xứ Berryfield, men theo các cánh đồng và ngọn núi, sẽ có một vùng đất tên là Alnimar Firis, một tòa thành cùng tên ngự giữa cánh đồng Lúa Chết và Tây Filiar Dor. Ở nơi hiểm nguy đó, có những con người vẫn còn giữ được ngọn lửa linh hồn mà Noãn Đà La đã trao cho cái thiện, và cậu phải mang trái tim được chọn của mình đến cho họ. Khi trái tim cậu hòa cùng ánh sáng của một Tali A thiện và nhân dân Alnimar Firis, chúa tể bóng tối sẽ không thể nào che lấp được nữa.”, con ngựa tiến đến gần, khịt mũi, và cúi đầu xuống ngang tầm mắt cậu.

“Chuyện này là không thể!”, Niranda nói. “Không gì là không thể Niranda.”, con ngựa mách. “Cầm kiếm lên! Con đường phái trước và thành Firis đang chờ đợi cậu!”, nó mách tiếp. Niranda nhìn thấp thỏm ra ngoài cửa sổ, nơi cánh đồng khô cằn xứ Littleland trải dài vô tận. “Sẽ rất xa đấy, Niranda à!”, cậu nhủ.

Cậu nghĩ rằng con đường kia không còn là nơi đàn cừu gặm cỏ nữa, sẽ không còn lũ ngựa non dẫm nước đìa giữa cao nguyên Berryfield, mà là một hành trình vĩ đại đang chờ mình bước tới. Trong lòng cậu vang lên một niềm uất ức, và sự thôi thúc kỳ lạ, rằng nếu không đi, cả Littleland sẽ mãi chìm trong cơn ác mộng của vua Karyimar. “Đây không phải là kết cục của Berryfield.”, cậu nhấn mạnh. “Vậy hãy lắng nghe những gì mà lòng cậu dẫn lối, một ánh dương vô tận!”, ngựa đốm tự hào nói.

Cậu quay lại nhìn con ngựa đốm, nửa tin nửa ngờ, đôi bàn tay nhẹ nâng mẩu bánh mì lúa mạch còn dư ra, móm cho con ngựa ăn. Đôi chân trần cục mịch chạy lò tò vào phòng chứa Blurry. Cậu vác chiếc giỏ đeo lưng ra, chứa rất nhiều đồ ăn mà cậu giấu đi khỏi dân làng chung quanh, nhất là thằng con trai háu ăn Wili của lão Leggot đã khuất. Phòng Blurry đóng sầm, ánh sáng từ lò sưởi không còn rọi trên mương nước mà lão kia đã đυ.c khoét. Niranda giẫm lên đàn kiến con vây quanh vụn cá hấp, run run, nhưng giọng nói đã cứng cỏi hơn.

“Được rồi! Này ngựa đốm! Nếu thật sự Tali A và sứ mệnh đã chọn ta, thì ta sẽ đi. Đường đi đến Alnimar Firis mù tịt và hiểm nguy, ta cần một người đồng hành. Tuy nhiên, hàng xóm luôn ghét tôi, nên tôi chẳng còn ai ngoài mày… à không, ngoài ngươi… ngươi… ngươi sẽ đi cùng ta chứ?”, Niranda hỏi. “Tất nhiên rồi! Kể từ giây phút này, tôi sẽ là đôi cánh của cậu và ta sẽ thắp nên hi vọng mới.”, con ngựa khẽ hất hất bờm, đôi mắt triều mến, ánh lên một chòm tia sáng dịu dàng. “Trên đường đến đó, hẳn sẽ có người sát cánh với cậu! Hãy cứ yên tâm!”, ngựa đốm chắc chắn.

Thế là, cả hai đã sẵn sàng lên đường. Từ giã căn nhà nhỏ xứ Littleland, dưới ánh đuốc và ngọn lửa chập chờn, người và ngựa cẩn thận giữa hiểm nguy. Một khởi đầu của Niranda đã được sứ mệnh định đoạt. Dưới mông con ngựa đốm, cậu treo theo một cây gậy dò đường, một mảnh bản đồ nhỏ còn khuyết danh, mười than thuốc phân cừu Sheelirin và sách tà chú cổ điển không tên do dân Berryfield sưu tầm và soạn ra.

Tay của Niranda vẫn giữ khư mẩu bánh mì nhỏ, và một tay còn lại nới lỏng dây cương cho con ngựa đốm dễ thở hơn. Trời lạnh hơn, khi ra khỏi ranh giới, Niranda ngoái đầu về Berryfield, ngôi nhà nhỏ mờ ảo khuất dạng dần. Sương đọng trên lớp áo choàng nhỏ màu cánh gián văng sau lưng của Niranda, cậu nhận ra cả hai người và ngựa đang chết cóng. Niranda xé toạc một mảnh vải mỏng từ chiếc áo choàng, quấn quanh vành móng ngựa. Họ đi ngang qua nhiều vách tường cổ kính, những vách rong chứng kiến sự có mặt của người Noãn Đà La, có in hình cuộc hành quân của vua Karyimar xuống cánh đồng Lúa Chết. “Hãy chậm rãi tiến về phía trước, kẻ thù sẽ thất bại trước niềm tin của bạn!”, dòng chữ Ruhhin hiện ra, ít nhiều đã nhạt phai đi, nhưng không đến nổi không đọc được. Phía dưới dòng Ruhhin là mười hai dòng Ruhhin khác, Niranda đọc nhỏ, đọc qua loa, cậu không ghi nhớ một cách thấu đáo.

“Ta đã rời khỏi ranh giới Littleland.”, Niranda nói. “Phải! Lần đầu tiên cậu ra ngoài thế giới rộng lớn này ư?”, con ngựa ngập ngừng. “Dĩ nhiên rồi! Sao một người nhỏ nhắn như tôi dám mơ tưởng đến ngày này được cơ chứ?”, Niranda mách. “Thế giới rộng lớn nhưng có khi nhỏ xíu như vụn đồ ăn mà thôi, Niranda à!”, ngựa đốm cười. “Điều đó có nghĩa là gì nhỉ?”, Niranda hỏi. “Con người không khác gì thế giới này cả, Niranda à! Cậu không ngoại lệ!”, ngựa đốm đáp.

“Vậy là tôi đã không còn là một đứa trẻ chăn cừu ở Berryfield nữa…”, Niranda lẩm nhẩm nho nhỏ ở trong miệng. Con ngựa đốm đi lộp cộp trên mặt cỏ, mảnh vải thừa đã làm móng của nó đỡ mòn hơn. “Cậu vẫn là cậu Niranda à! Không có gì đổi mới cả, một cậu bé chăn cừu vẫn hiển nhiên là một cậu bé chăn cừu mà thôi! Để làm một anh hùng, không có nghĩa là cậu phải rời xa việc cậu vẫn là một người chăn cừu ở Berryfield này.”, ngựa đốm điềm tĩnh nói. “Kẻ có sứ mệnh đeo theo ánh sáng của con người sẽ thật sự là một anh hùng khi kẻ ấy dám đương đầu với bóng tối.”, con ngựa phấn chấn đi chắc chắn về phía xa.

Lá cây Kashmir rơi qua đầu con ngựa đốm, một dải ruy băng cũ rách giăng ngang đường mòn đến xứ Alnimar. Trên gốc cây Kashmir, nét u sầu của loài linh mộc hiện ra qua nhiều vết sần sùi, khô ráp, và màu nâu sức sống của cây đã nhạt dần. Lâu lắm rồi người ta mới chứng kiến loài linh mộc vốn mang nhiều sự sống đang đối mặt với cái chết. Ẩn dưới một lớp lá dính chặt trên thân cây Kashmir, một cáo trạng tróc nã hiện lên. “Thưởng ngàn đồng cho ai săn lùng được Kitar Lona!”, dòng mực đậm hơi lem lúa vẫn còn sáng lóa dưới ánh trăng.

“Kitar Lona…”, Niranda nói nhỏ. “Chỉ là một cô gái.”, con ngựa mách. “Họ săn lùng một cô gái để làm gì nhỉ?”, Niranda hỏi. Con ngựa quyết định không đáp một lúc sau. “Không cần để ý làm gì, việc của chúng ta là kịp đi đến Alnimar Firis!”, ngựa đốm giọng khảng khái. “Chẳng phải ngươi nói rằng, trên đường đi đến đó ta sẽ có bạn đồng hành khác hay sao?”, Niranda vẫn cố chấp. “Không phải là một kẻ được đề danh trên mặt cáo trạng, Niranda à!”, ngựa đốm nói.

Đoàn người và ngựa không còn nhắc đến xứ Littleland. Hai người họ lên đường được gần hai ngày, và chưa có dấu hiệu ngừng chân. Niranda nhớ căn nhà của cậu, và cậu nhớ cả phòng đồ ăn bí mật Blurry, nhớ luôn cả mương nước do lão nông đáng ghét Leggot siêng làm đã xây nên. Trước mắt của đoàn là hoang mạc Wasrt, một hoang mạc không có gì ngoài cát đá, ngay cả xương rồng nguyên sơ có dạng cây đinh mũi gai nhọn hay chứa nước cho khách lỡ đường còn không có, nói gì đến sinh vật sống nào khác. Niranda và con ngựa đi đến. Hai mặt đường ngoằn khít vào nhau, không một lối đi chính thống, chỉ lộn lẫn và lởm chởm vài rãnh cát. Tù và của quân Karyimar còn sót lại, và mớ cờ lệnh không dừng được ngoài việc lau chân rớt dọc đường.

“Tĩnh lặng, Niranda, chỉ một màu tĩnh lặng…”, ngựa đốm nói. “Thật lạ! Lần đầu ta đi đến một nơi nằm ngoài Berryfield mà hoang sơ đến như thế!”, Niranda du ngoạn một cách lạ lẫm. “Tôi nghĩ là có điều gì đó không ổn cho lắm!”, ngựa đốm nghi hoặc.

Trên đường mòn ở hoang mạc Warst, cả hai trông thấy một cọc đá lớn chễm chệ giữa lưng chừng. Không một câu nói vang lên, đoàn giữ lửa đi qua hoang mạc một cách lặng lẽ và kín đáo. “Niranda! Hãy xem kìa!”, con ngựa khẽ nói. “Cái gì vậy?”, Niranda hỏi. “Là quỷ Parlanmir!”, ngựa đốm đáp.

Cái cọc kia có một mảnh gươm sáng, nó phản chiếu được ánh trăng của cả hoang mạc Warst. Quỷ Parlanmir, đám lâu la xảo quyệt của cái ác đang lượn vòng, hàng hàng lớp lớp chiếc áo choàng da người dòng dèo tạo nên một dải khí đen quanh cái cọc, mùi xương người nực nồng, hôi không tả được. Huyền thoại ở Berryfield không kể về chuyện này, không ai nghe, kể cả Niranda; nhưng nếu nó được kể lại từ giọng nói của cậu một cách chững chạc, ai nấy đều sẽ tin sái cổ. Lũ quỷ Parlanmir lượm nhặt cờ lệnh của đoàn quân Karyimar gắn sau lưng, đốm nâu nâu đỏ đỏ nhí nhố giữa hoang mạc, những mảnh rách phấp phới không kém gì đoàn hành quân đang ra uy sức mạnh. Con ngựa đốm lựng khựng, chân run, không đủ dũng khí để đi tiếp. Niranda mò mẫm sau mông con ngựa, lục lọi, và lật lia lịa quyển sách tà chú mà cậu đã đeo theo.

“Không có, ngựa đốm à!”, Niranda e ngại. “Không có gì?”, ngựa đốm run run, giọng nhẹ hỏi. “Cách chống chọi với Parlanmir!”, Niranda đáp. “Dân Berryfield chỉ có chừng ấy kiến thức thôi sao?”, con ngựa vừa sợ vừa giận dỗi. “Chừng ấy là thế nào?”, Niranda thắc mắc. “Kiến thức của cả vùng chỉ nhỏ như hạt cát trên hoang mạc này vậy.”, con ngựa thất vọng lắm. Cho dù thời gian có trôi qua hơn mười năm nữa, dân trong làng Berryfield chắc vẫn sẽ chấp nhận khư khư với khả năng mà họ cho là vốn sẵn có trong vấn đề di truyền của mình. “Ngôi nhà kế cạnh thì sao?”, con ngựa đốm ám chỉ. “Ngôi nhà kế cạnh có liên quan gì à?”, Niranda vẫn chưa hiểu. “Lão Leggot! Ông già lụ khụ không nói gì đến lũ quỹ này sao?”, con ngựa nhắc. Niranda siết lưỡi, ngoặt vai xuống. “Ai đời lại đi nói chuyện với một ông già mà mình ghét cơ chứ!”, cậu khẳng định và tiếc nuối.

Với một người chỉ suốt ngày đi ra đi vào phòng Blurry, ngắm mương nước, gặm đồ ăn mà mình giấu rồi nhớ ghét về lão Leggot như Niranda, thử thách trong đời sống chỉ là một chuyện không sớm thì muộn. Đầu óc cậu không có gì ngoài mẩu bánh mì lúa mạch và vài con cá hấp khô khi rối rắm. “Liều vậy!”, cậu ra lệnh cho con ngựa. “Tôi sẽ không thiệt mạng vì lũ quỷ dơ dáy kia!”, con ngựa ra vẻ gớm ghiếc.

“Thế ta sẽ quay về Littleland và chờ đợi cái chết sao?”, Niranda mắng. Con ngựa cúi mặt và khịt mũi. “Tất nhiên là không rồi, tôi sẽ hi sinh cùng với cậu, Niranda!”, ngựa đốm đang lấy được sự tự tin. “Còn chần chừ gì nữa? Sao không chịu lao đến và đương đầu với lũ quỷ?”, Niranda quấn giữ dây cương vào cánh tay. “Kiếm của cậu đâu?”, con ngựa đăm chiêu hỏi.

Đoàn người và ngựa của Niranda đã lọt vào mắt của lũ quỷ Parlanmir, chúng ào đến như con mãnh thú vớ được mồi ngon. “Chúng đã đánh hơi được chúng ta!”, con ngựa nói. “Đừng sợ!”, Niranda cầm chắc cán dao, không có kiếm, cậu vẫn tận dụng được món đồ vật kém cỏi. Lưỡi dao ngậm được ánh sáng của mặt trăng, rọi chá vào đôi mắt không có con ngươi của quỷ dữ. Parlanmir gào khóc và cắn răng làm cho những chiếc răng nanh nhọn hoắt của chúng gãy đôi, nát vụn, rơi xuống đất.

“Xông lên, ngựa đốm!”, Niranda ra hiệu. Cậu gâm con dao vào áo choàng của lũ quỷ, xé làm đôi, linh hồn của cái ác không chống chọi nổi ánh sáng của lưỡi dao nhỏ xíu. Con Parlanmir đầu đàn vọt khỏi lưỡi dao, Niranda vin sát vào đầu ngựa, chòm cao hơn nữa và làm cho quyển tà thuật của cậu lăn lóc trên lưng con ngựa, những trang sách nguyên sơ vô ý được vạch ra, dòng chữ Ruhhin màu vàng ròng nhá nhem, kéo lũ Parlanmir vào quyển sách, Niranda liền khóa phong ấn, giam chúng lại.

Đoàn người và ngựa vẫn còn chưa kịp hoàn hồn, phải vội vã lên đường ra khỏi chốn hoang mạc chết chóc này. “Tôi nhớ chỗ này rồi, Niranda!”, con ngựa nói. “Đây chẳng phải là hoang mạc Warst giống như ngươi nói rồi còn gì.”, Niranda phản hồi. “Chưa đủ đâu!”, ngựa đốm đáp.

Con ngựa đốm nhớ người chủ cũ của nó, ông già điên với hàm râu quay nón mọc như sao giáng mắt giữa giờ khuya. Ông già đó là Rottwe, một lão điên sống không vợ không con giữa vùng hoang mạc Warst. Con ngựa đốm không phải tự nhiên mà đi lạc đến Berryfield. Trước khi đoàn quân của Karyimar đến Littleland, lão Rottwe có lần đưa đàn ngựa non của lão ra ngoài ranh giới của hoang mạc ăn cỏ, một hoang mạc mà xưa kia vẫn đủ cỏ cho đàn gia súc. Tuy nhiên, lão ngẫu hứng du ngoạn và muốn đi đây đi đó nhiều hơn để đổi gió, và lão muốn khép lại cái tuổi già một trăm mười hai của lão với đàn ngựa non một cách ý nghĩa hơn. Trong đàn gia súc đó có một con ngựa đốm. Lão yêu mến nó như một đứa con trai kháu khỉnh của lão, và lão dạy cho nó cách giao tiếp với con người…

“Con trai của ta!”, linh hồn của lão Rottwe hiện ra và gọi con ngựa đốm. “Cha? Là cha sao?”, con ngựa hỏi. Nó gập đuôi và giật cương suýt làm cho Niranda ngã sõng soài và rơi khỏi lưng nó. “Sao con lại ở đây?”, lão Rottwe xoa đầu con ngựa yêu của lão. “Con đang lên đường đến Alnimar Firis để đấu tranh!”, con ngựa dõng dạc đáp. “Vì lẽ gì?”, Rottwe hỏi. Niranda cảm giác không thoải mái cho lắm khi chứng kiến một hồn ma thong dong giữa hoang mạc rộng lớn và nói chuyện với một con ngựa đốm cũng kì lạ không kém. “Vì nhân dân Littleland và vì thế giới.”, con ngựa đáp lại lời của lão già điên Rottwe. Lão ngồi cạnh và tựa đầu vào miệng ngựa, vuốt ve dọc sóng mũi của nó, chà chà làm cho nó khoai khoái như ngày xưa.

“Hành động cao cả lắm con trai!”, Rottwe cười. “Cha sẽ đi sao?”, con ngựa nước mắt lưng tròng hỏi ông lão. “Sứ mệnh của con thật vĩ đại! Hãy cố gắng hoàn thành nó! Cha sẽ luôn ở bên con…”, lão già điên Rottwe được giải thoát khỏi sự giam cầm của lũ quỷ Parlanmir, và lão siêu sinh, chỉ để lại con ngựa đốm in mắt vào mặt trăng đơn độc.

Con ngựa vẫn men theo lối đi dẫn đến Littleland, một hầm rượu gỗ sồi Milar gần Berryfield đã chiêu dụ con gia súc, nơi nó hăng say ăn cỏ. Khi chiều chạng vạng vừa dập tắt, nó không thể trở về hoang mạc vì không nhớ đường. Nó lạc vào ngôi nhà của một người nông dân cao niên, lão Leggot… và cho đến nay, nó vẫn còn chờ đợi ông già điên Rottwe đến rước. Câu chuyện đã lấy đi nhiều nước mắt của dân Berryfield.

Trên cánh áo của Niranda và yên ngựa, mùi hôi máu quỷ Parlanmir chưa dứt hẳn, dòng máu quện vào lông ngựa làm cho con ngựa đôi khi ánh lên màu ưng ửng đỏ. Cả hai lặn lội và đi theo con đường làng dẫn về phía Bắc, con đường mà ngày xưa ngựa đốm đã chở Rottwe trên lưng mỗi chiều. “Nhớ lão già lắm sao?”, Niranda hỏi. Con ngựa vẫn đoái hoài đến chủ cũ, nó gượng sống để nó có thể được dịp nhớ đến người cha quá vãng của nó.

“Ta đang đi đâu đây?”, Niranda hỏi lớn. “Đến núi Hillath Kar.”, ngựa đốm đáp.

Niranda moi ra khỏi cái giỏ một mẩu bánh mì lúa mạch và một lọ nước mương đυ.c ngầu, cứ ực một hơi cho đỡ khát và nhồm nhoàm một mẩu bánh cho đỡ lòng. Con ngựa lao đao chở cậu cũng được phần ăn uống ké, nó ngẩng đầu lên giống với lật đật, ra dớp ưng chịu lắm. Tiếng gừ gừ oang oang của nó chứng tỏ vì sao nó được coi là ngựa, mà còn là một con ngựa có cảm xúc và có khả năng nói chuyện với con người.

“Định mệnh đã sắp đặt!”, con ngựa mách. “Sao ngươi lại nói vậy?”, Niranda vừa nhai vừa nói không rõ lời. “Cậu có nhớ sự e dè của tôi khi đối đầu với lũ Parlanmir chứ?”, con ngựa hỏi. “Nhớ chứ! Có vấn đề gì ư?”, Niranda đảo mắt.

Con ngựa đi một lát rồi ngưng hẳn. “Tôi chỉ thử thách sự kiên định và lòng dũng cảm của cậu thôi, Niranda à!”, nó hí hỏm. “Vậy sao? Ta cứ ngỡ là ngươi sợ thật!”, Niranda giả giọng của con ngựa, cậu ngạo nó và nó cười khanh khách giống con người. “Cậu không tin sao? Tôi sẽ tiết lộ một bí mật nữa về định mệnh!”, con ngựa vẫn còn cười.

Niranda giục dây cương cho con ngựa đi lộp cộp. “Nói thử xem!”, cậu thách nó. “Cậu sẽ gặp một người đồng hành ở núi Hillath Kar.”, con ngựa nửa đùa nửa thật.

Lá cây ngán đường của đoàn người và ngựa, một nhành khô cong queo quẹt ngang qua mặt của Niranda. Cậu sờ lên ngạnh mặt, hai ngón tay so nắn, sờ soạng qua lại những sợi râu mọc lởm chởm mới nhú. “Cậu đã lớn, Niranda!”, con ngựa nói đúng lúc cậu sờ lên mặt. Cậu có cảm giác gương mặt của mình đã không còn là một đứa trẻ vừa mới lên mười hai nữa.

Cái lò sưởi ở sát bên phòng chứa Blurry, và ngọn lửa vời vợi như sức mạnh của cái ác ngoài kia. Bây giờ, cậu đang ở “ngoài kia”. Một ngọn lửa khác mạnh hơn vẫn đang ngự giữa lòng cậu, và ánh sáng của hi vọng vô tận đang vẽ đường không khác gì ánh sáng soi rọi của mặt trăng. “Khu rừng Rilya!”, con ngựa đốm cắt ngang. Niranda nhắm nghiền đôi mắt, rời khỏi yên ngựa, và đối diện khu rừng già.

“Các ngươi là ai?”, một giọng nói lạ.

“Ai mới vừa hỏi đấy?”, Niranda hỏi. “Hãy ra mặt ngay! Ta sẽ không sợ bất kỳ ai cả gan dám cản đường đến thành Alnimar Firis!”, cậu nói.

“Ta là chủ của khu rừng, là sức sống khơi mào cho ngọn núi Hillath Kar!”, giọng nói kia vọng đến. “Ta có lá cây làm áo, có gỗ mục làm thân, và có chân tay là cành rễ vươn sâu và dài!”, một giọng nói lạ khác nói song song. Niranda leo lên ngựa, lùi sang một khoảng đất khác ít lá hơn. “Rốt cuộc các ngươi là gì?”, cậu cầm chắc con dao.

“Ta là thần rừng Treeriolash!”, cái cây cao lớn nhất đang dang nhánh ra.

Trời đột ngột nằm sau cánh tay của thần rừng Treeriolash, xám đen lại một mảng kinh hoàng và rộng lớn. Cơn giận dữ kéo lên sỏi đá, lá cây và sâu bướm, tạo nên một địa chấn và hàng chục cơn lốc giăng kín rừng Rilya. Không chỉ có một vị thần rừng, nhiều vị khác đã có mặt ngay sau khi một Treeriolash lên tiếng, và Niranda lần đầu chứng kiến loài linh mộc Treeriolash có cả giống đực và giống cái. Họ sinh sôi nảy nở rất đông, và hệ sinh thái của rừng Rilya ngày càng trở nên đa dạng dưới bàn tay cằn cỗi của họ. “Quân đội Karyimar đã lấy đi tất cả.”, một Treeriolash nói. “Họ đã lấy đi những gì từ các vị?”, con ngựa hỏi.

Tất cả Treeriolash đều có cảm xúc mãnh liệt, họ buồn bã, giận dỗi và có sự phản ứng đầy thất vọng về con người. “Giống nòi của chúng tôi!”, một Treeriolash chán ghét đáp. “Những đứa con của Thượng Đế, chúng đã mượn xác cây cỏ để giao tiếp với thế giới này… nhưng quân đội Karyimar đã chặt phá, thiêu đốt, và nguyền rủa tất cả…”, một Treeriolash già nua nhất, cành sắp lìa hết khỏi thân, ôn tồn nói.

“Thần Mưa đang ở đâu? Sao ông ấy không cứu giúp mà lại mặc các vị?”, con ngựa đốm gừ lên. “Ông ta đã trở về với Thượng Đế!”, Treeriolash già nua đáp.

“Hợp sức với chúng tôi ở Alnimar Firis để chống lại Karyimar và cái ác xa xôi từ phương Bắc, khu rừng sẽ lại sinh nở như xưa!”, Niranda gào lớn. “Karyimar định làm một kẻ đồ tể của thế giới hay sao?”, Treeriolash chau mày. “Tôi nghĩ là sau lưng hắn có một thế lực đen tối khác đã chi phối mọi thứ.”, Niranda giải thích.

“Hãy cho khu rừng Rilya một thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng! Treeriolash sẽ hội quân ở Alnimar!”, một Treeriolash nghiêm nghị nói. Khu rừng già có lẽ chấp nhận lời yêu cầu góp sức của Niranda. Họ lập tức dạt sang hai hướng, đổi chiều ngọn, rễ tróc ra khỏi mặt đất và di dời, Treeriolash đang mở đường cho đoàn người và ngựa dễ dàng đi qua khu rừng Rilya. “Hãy thận trọng khi cậu rời khỏi đây!”, Treeriolash dặn dò. Lối đi dẫn họ giáp mặt với lăng mộ của Thirlin, một lãnh chúa của chân núi Hillath Kar.

Khung cảnh không khác gì nơi địa ngục, ngoài đàn dơi con đang cấu xé một con sóc nhí ra, không có gì khá hơn. Thanh gươm Elsir Kolf, không phải thật, chỉ là một pho đá nằm thẳng đứng hướng lên trên để yểm nguyên khí của lăng mộ. Trên nắp mộ có một dòng chữ Ruhhin khác: “Hãy mặc chúa ngủ yên, cái ác sẽ chế ngự…”. Con ngựa đốm nâng hai chân trước, chạm móng vào dòng chữ. “Thứ này… ai đó đã sửa đổi!”, nó nghi vực nói.

“Cái gì? Ai sửa đổi?”, Niranda ngạc nhiên. “Những con chữ trên lăng mộ của Thirlin!”, con ngựa đáp.

“Ai đủ sức khắc lên nắp mộ của một vị lãnh chúa vĩ đại dưới chân núi Hillath Kar được cơ chứ?”, Niranda mai mỉa. “Không phải là lũ Orzi! Càng không phải là Gollum hay đám nhân mã!”, con ngựa đang dò óc. “Hả? Nhân mã? Có thật ư?”, Niranda kinh hãi hỏi. “Nay mai gì rồi cậu sẽ gặp!”, con ngựa đáp.

“Ta đã rong ruổi khắp nơi, và giờ đây phải dừng chân trước một ngôi mộ hoang ngu ngốc này!”, ngựa đốm mắng lớn. “Khoan nóng vội ngựa đốm! Hẳn phải có một lối đi khác mở ra dành cho ta!”, Niranda trấn an.

“Thôi! Tôi thà vào ngủ trong quan tài với lãnh chúa Thirlin còn sướиɠ hơn là phí thời gian đi mò mẫm mãi như cậu!”, con ngựa đốm gắt gỏng, nó vừa nói lớn vừa giở nắp quan tài ra. “A!”, nó hét lên. “Chuyện gì vậy?”, Niranda hỏi. “Trong quan tài không có xác của Thirlin!”, ngựa đốm đáp.

Cả hai vẫn không hiểu chuyện gì đang diễn ra ngoài việc ngồi cạnh một cỗ quan tài rỗng chần vần sau pho đá của thanh gươm Elsir Kolf. Hơn nữa, giữa quan tài không có gì ngoài mạng nhện, xác chuột chết, phân chuột và một cái chìa khóa đồng gỉ mạt. “Ở đây có một cái chìa khóa.”, Niranda nói. “Vậy hẳn là có một cái cửa.”, con ngựa kết luận vội. “Đi lần cánh cửa đi ngựa đốm!”, Niranda ra lệnh.

Họ mất hai giờ vẫn không thấy được cánh cửa dẫn lối vào ngọn núi Hillath Kar. Lúc này, chiếc giỏ của Niranda không còn lương thực, và cả hai đang chết đói. Không còn lối nào để đi nữa, đường lui thì xa vời vợi, họ không thể nào trở về Littleland với chiếc giỏ không lượng thực được. Niranda tựa người vào pho đá gươm Elsir Kolf, vò đầu một cái, sức lực cạn kiệt và nước mắt đang sắp sửa rơi trên vạt áo của cậu.

“Hãy mặc chúa ngủ yên, cái ác sẽ chế ngự…”, con ngựa đốm lặp lại dòng chữ Ruhhin được khắc trên nắp mộ. “Hãy chậm rãi tiến về phía trước, kẻ thù sẽ thất bại trước niềm tin của bạn!”, nó nhớ lại một dòng chữ Ruhhin khác được người Noãn Đà La khắc trên vách đá ở ngoài ranh giới Littleland. Con ngựa đốm có lẽ nhận ra một điều gì đó, nó cứ ngờ ngợ, chưa nói nên lời, và nó vẫn không hiểu sao những dòng chữ Ruhhin kia vẫn ám ảnh đầu óc nó. “Hãy mặc chúa ngủ yên… Hãy chậm rãi tiến về phía trước…”, con ngựa đốm mở mắt kinh ngạc.

“Này! Niranda!”, con ngựa gọi lớn. “Việc gì thế?”, Niranda chán nản hỏi. “Cậu còn nhớ dòng chữ Ruhhin ở ngoài xứ Berryfield chứ?”, ngựa đốm nhắc lại. “Thế dòng chữ đó có liên quan gì nào?”, Niranda hết hy vọng. “Đó không phải là một dòng chữ sáo rỗng! Nó là lời chỉ dẫn, Niranda à!”, con ngựa mách.

“Lời chỉ dẫn ư?”, Niranda vẫn chưa hiểu. “Phải! Hãy mặc chúa ngủ yên… Hãy chậm rãi tiến về phía trước…”, ngựa đốm đáp.

“Hãy mặc chúa ngủ yên… có nghĩa rằng ta sẽ lấy ngôi mộ làm điểm mốc, và hãy đi chậm rãi đến phía trước… khi nào chạm phải chân núi Hillath Kar, cánh cửa và ổ khóa sẽ ở đó chờ đợi ta mở ra!”, con ngựa phấn khởi giải thích. “Thiên tài ngựa đốm à! Quả là thiên tài!”, Niranda mừng rỡ nói.

Theo lời con ngựa đốm, Niranda và nó xuất phát từ lăng mộ. Họ đi đến khi nào đạt ngưỡng giới hạn là một vách đá ngay chân núi Hillath Kar. Thượng Đế đã sắp đặt, một cánh cửa ẩn sâu giữa vách đá nằm ở đó, hòa lẫn màu sắc với ngọn núi, không có rong rêu, không có ánh sáng, chỉ có một cái lỗ khóa, rộng vừa đủ để chiếc chìa khóa trong lăng mộ của lãnh chúa Thirlin cắm vào và mở khóa.

Cánh cửa dưới chân núi Hillath Kar mở ra, ánh sáng trắng của mặt trăng không cách nào chạm đến được. Chỉ có đoàn hai người thắp nên một ngọn đuốc. Niranda quấn vào hông con ngựa một khóm củi khô và nhựa thông Riogaw, làm nhiên liệu cho ngọn đuốc được duy trì. Hơn nữa, Niranda vẫn không quên gói kỹ quyển sách tà thuật, mảnh bản đồ và mười than thuốc, đề phòng khi cấp bách. Lối vào Hillath Kar dưới chân họ được soi bởi ngọn đuốc, côn trùng lâu năm trong lòng núi khi lần đầu gặp lửa đỏ liền sợ hãi và lẩn trốn, lũ dơi con bắt đầu cảm nhận được ánh sáng nên chúng ngỡ là giữa ngày, rồi liền treo giò lên trần động mà ngủ mất.

Trong núi ấm áp hơn sườn và đỉnh núi. Không khí trong đây khô hơn nhiều, và không nằm im chịu trận trước tuyết lở và sương mù dày đặc. “Cậu giữ chặt dây cương nhé!”, con ngựa đốm thôi thúc Niranda. “Ngươi ngửi thấy mùi gì không ngựa đốm?”, Niranda hỏi nhỏ. “Chắc chắn không phải là mùi của tôi!”, con ngựa đáp. “Thế đó là mùi gì?”, Niranda một tay siết chặt con dao, tay còn lại siết chặt ngọn đuốc. “Mùi của quỷ Orzi! Đi mau Niranda! Lũ yêu nghiệt đang ở đây!”, con ngựa đốm vừa kịp nhận ra thì một con quỷ Orzi cầm cây gai lao đến.

Họ chống trả yếu ớt với con dao nhỏ, và sau đó, con lừa hất hẳn hai chân lên, vung một đạp làm con quỷ Orzi văng ra một khúc, choáng váng. Con Orzi vẫn điên cuồng lao về phía Niranda, miệng khát máu, và hàm răng gãy nghiêng ngửa. Cuộc rượt đuổi kéo dài suốt quãng đường đi qua chân núi Hillath Kar. Niranda leo lên lưng con ngựa đốm chạy cắt ngang qua nhiều vũng nước trũng trong động, còn con Orzi trèo sang một chiếc xe nhỏ như một cái rổ trái cây, chạy thật nhanh trên đường ray do chính nó làm sẵn từ nhiều năm trước ở hang chân núi này.

“Chết thật!”, cả hai người và ngựa đồng loạt. “Không có lối ra, Niranda!”, con ngựa sợ hãi nói. Niranda vươn cao mảnh dao nhỏ lên quá khỏi đầu, cậu kéo tay áo xuống và chiếc áo choàng rời sát vai. “Nếu thật sự có lối thoát, và sứ mệnh không định đoạt số phận của ta một cách dễ dàng, hãy cho ta và ngựa đốm con đường dẫn ra ngoài chân núi Hillath Kar!”, cậu hô lớn. Mặt trăng cuối cùng đã đi vào hư ảo, nguồn sáng pha lê soi vào lưỡi dao, vẽ hiện lên một dải mòn mà cả hai có thể níu giữ để tiếp tục ra ngoài hang động. “Thoát rồi ngựa đốm à!”, Niranda vui cười. “Òm… thoát khỏi hang động chứ chưa thoát con Orzi đâu nhé!”, ngựa đốm nói.

Trời vào cuối năm, gió trở nên se lạnh, và mặt đất phía bên ngoài chân núi Hillath Kar dần đóng băng và trơn trượt. Con ngựa đốm cứ ngỡ là sẽ vượt qua dễ như ăn cỏ, nhưng mẩu vải thừa mà Niranda xé ra từ áo choàng của cậu để bọc kín dưới chân nó đã rách nhàu te tua. Đoàn người và ngựa di chuyển khó khăn hơn trong khi con Orzi vẫn kịp phóng xe gỗ lao ra và đuổi sát. “Làm sao đây?”, Niranda hỏi ngựa đốm. “Có lẽ Thượng Đế muốn dành sứ mệnh này cho một người khác!”, ngựa đốm lo lắng đáp. Niranda vớ chặt dây cương, giục con ngựa quay đầu sang một hướng vuông góc với chân núi, con Orzi hú vía, chiếc xe gỗ như giỏ trái cây lật soãi sang một góc song song với đầu của con ngựa. Nó rơi ra khỏi xe, đoàn người và ngựa của Niranda rơi luôn, sách tà thuật và mớ thuốc phân dê loạn xạ. Cỗ xe gỗ của con quỷ đâm sầm vào một cây Kashmir ở gần đoàn, rễ cây yếu ớt long ra khỏi mặt đất, cây ngã độp, tơ hơ, một khúc cành nặng ghì chắc hai chân sau con ngựa đốm.

“Bọn mày đến số rồi.”, con Orzi vừa đi lại vừa nhe răng nói.

“Lần này chết chắc rồi!”, con ngựa sợ. “Chẳng có gì lo sợ cả!”, Niranda đập mạnh vào lưng con ngựa, cậu tra đầu dao vào gần người con quỷ. Con Orzi không ngần ngại lao như chớp về đoàn người và ngựa. Thình lình, khi Niranda vẫn còn chưa hiểu kết cục nào sẽ dành cho cả hai phía, và con ngựa đốm chết cứng, khép mắt lại, một mũi tên xa xa găm thẳng vào sọ của con quỷ Orzi, máu nó ọc ra, đen xì và nồng thối.

Con Orzi choài quỵ chết, giơ hàm răng nhe nhẩu, mắt không nhắm. “Nó chết rồi sao?”, con ngựa hỏi Niranda. “Có lẽ vậy.”, cậu đáp. “Cậu giỏi thật đấy, chàng trai Berryfield à!”, ngựa đốm khen đáo để. “Không phải tôi ngựa đốm! Tôi không gϊếŧ con quỷ dữ Orzi! Ai đó đã làm chuyện này!”, Niranda khẳng định.

“Ta đang ở đâu?”, con ngựa đốm loay hoay. “Đồng cỏ Lạc Cháy!”, một giọng nói vô chủ vang lên, không cách xa vị trí của đoàn người và ngựa. “Cậu vừa trả lời tôi có phải không Niranda? Sao giọng cậu hôm nay có vẻ khác nhỉ?”, con ngựa nói. “Không phải tôi ngựa đốm.”, Niranda nhố mắt.

Trên miệng hang dưới chân núi Hillath Kar là góc đá lõm, và chỗ lõm ấy sắp vỡ nhỏ ra nữa, một cô gái tóc nâu đỏ chễm chệ, cười khúc khích. Sau lưng cô có vác một cuộn da quỷ Orzi, thay cho giường nằm lúc mệt mỏi vì phiêu du, và cô đeo theo một cái đai hông có đính xương răng của lũ quỷ, một lọ tà thuật khác đôi khi có công hiệu khử độc của Parlanmir. Niranda nghĩ rằng cô gái kia là một người dân xứ Littleland vì đặc điểm ngoại hình của cô gái rất khá giống với cậu. Thân người nhỏ nhắn và gương mặt gần như là vuông vức, làn da sạm và đồi mồi lần sần, đủ khiến cho cô gái có thừa khả năng ngụy trang và phục kích lũ Orzi xảo quyệt và hung dữ.

“Cô là ai?”, cả hai người và ngựa hỏi.

“Kitar Lona, kẻ săn đuổi những kẻ săn đuổi mình!”, cô gái đáp. “Khoan đã… kẻ săn đuổi… kẻ săn đuổi mình… kẻ săn đuổi… Cái gì mà lộn xộn vậy?”, con ngựa lầm lầm với Niranda. “Có phải là Kitar Lona của xứ Littleland không?”, Niranda nhận vội. “Tôi vốn là một người con của Littleland, vùng ngoại ô vô danh, nằm sát ranh giới của Berryfield. Nhưng giờ đã không còn vùng ngoại ô nào nữa rồi… kể từ khi cuộc hành quân của chúa Karyimar diễn ra.”, Kitar Lona đáp, giọng nghẹn ngào.

“Hãy chậm rãi tiến về phía trước, kẻ thù sẽ thất bại trước niềm tin của bạn!”, Niranda dõng dạc nói. “Sao cậu biết những dòng chữ Ruhhin kia?”, Lona ngạc nhiên. “Những chiến tích của người dân Littleland, Kitar ạ! Đó sẽ là sứ mệnh không chỉ của riêng tôi, mà còn là của cô nữa!”, Niranda mỉm cười. “Ánh sáng của cô đang rực rỡ, bạn đồng hành ạ!”, con ngựa đốm nói. “Ánh sáng nào?”, Lona hỏi. Con ngựa đi lững thững đến gần Kitar Lona, chân của nó chưa vững hẳn vì khúc cây Kashmir lúc nãy, nhưng con ngựa vẫn thong dong và thoải mái như linh hồn của lão Rottwe. “Thứ vũ khí nằm sâu giữa trái tim của cô ấy!”, con ngựa đáp.

“Con ngựa này điên à, Niranda?”, cô gái ngoáy đầu sang chỗ mà Niranda đang ngồi ập xuống. “Tôi e là vậy!”, Niranda cười giỡn. “Sao nó nói chuyện được?”, Lona chỉ con ngựa. “Con ngựa điên của một ông già điên! Thế giới này rồi sẽ điên không khác gì hai người họ!”, Niranda vừa cưỡi ngựa vừa dí dỏm.

Vùng đất này vốn là một đồng cỏ xanh tốt, không ô nhiễm do khí hậu phương Bắc suốt nhiều năm ôn hòa. Những linh mộc cao lớn, Bạch Dương và Kashmir, sinh nở và di cư dòng họ về Littleland; những con suối khúc gấp của Thần Mưa, nước màu ngọc anh, có vị ngọt và chất dinh dưỡng do Bạch Dương và Kashmir dẫn vào cánh đồng; và hàng loạt loài cỏ dại, lạc khổng lồ mọc lên theo quy luật của Thượng Đế, vàng ươm, ngát hương khắp nẻo ranh giới Littleland và con đường đi đến Alnimar Firis. Bây giờ, mọi chuyện đã khác, loài linh mộc chết khô dần, những con suối cạn kiệt nguồn nước, và cánh đồng Lạc Cháy đã không còn cỏ dại và cây lạc vàng nữa. “Vua Karyimar! Ta hận ngươi đến xương tủy!”, Kitar Lona phẫn uất. Niranda sờ lên đôi vai của cô gái, ngọn đuốc sáng trong đêm đang trở nên rạng rỡ hơn. Lona cảm nhận được loài linh mộc và con suối hiện hữu giữa lòng cô, mát mẻ, ngọt ngào, và không cần phải chống chọi mệt mỏi với quá khứ đi cùng. “Sao cậu làm được thế, Niranda?”, Lona hỏi. “Hãy gạt đi hận thù, niềm tin chính là thứ mà cô có thể sống mãi với nó, không một loại ánh sáng nào mãnh liệt hơn, lan tỏa hơn thứ ánh sáng xuất phát từ tình yêu thương và đức hi sinh cao cả của ta, Kitar Lona à!”, Niranda đáp.

Cây mục rữa sẽ sống lại, con suối khô khan sẽ khơi nguồn mạch nước, và mùi hương lạc cháy sẽ ngào ngạt khắp Littleland, vào một ngày không xa. Cả Niranda, Kitar Lona và con ngựa đốm đạp cát đá, chịu nắng gió, mưa ngâu, họ can đảm chinh phục cuộc hành trình đến Alnimar Firis. Khi đi qua ranh giới giữa cánh đồng Lạc Cháy và chân núi Hillath Kar, đoàn người và ngựa dừng lại ở một con hẻm cụt nhỏ ven đường, chiều ngang vừa lọt cái chân của thằng mập Wili con của lão Leggot. Dốc rìa của mặt hẻm ngửa lên, hai đầu khít vào nhau, không dính hẳn, chỉ chừa ra một kẽ sáng so với sợi chỉ mỏng vẫn còn nhỏ hơn nhiều lắm. Dưới dốc mặt mạng nhện giăng lưa đưa, không đủ lâu để đươm tổ, những con nhện còn nhỏ rơi vào chiếc giỏ của Kitar Lona.

Cô gái tóc nâu đỏ lấy trong giỏ ra mẩu bánh mì lúa mạch khác, hủ lạc rang và mười hai khóm hoa dại mọc ra lú nhú từ thân cây Kashmir. Kitar Lona khéo léo và cẩn thận găm mười hai khóm hoa đó vòng quanh chỗ của cả đoàn, vòng hoa vẫn méo xẹo, không ưa mắt, và dù có ưa mắt thì con ngựa vẫn không thích thú gì vì nó vốn dị ứng khi ngửi mùi hoa dại. “Cô làm gì vậy Kitar?”, Niranda hỏi. “Nghi thức của người Littleland cũ!”, Kitar đáp. “Nghi thức gì?”, con ngựa nhướng mày.

“Cậu có mang theo một quyển sách phản tà thuật nào bên người khi rời khỏi Littleland không?”, Kitar Lona nhìn Niranda. “Sách phản tà thuật á? Tất nhiên là không rồi! Tôi chỉ có quyển tà thuật mà thôi!”, Niranda lắp bắp.

“Đồ ngốc! Trong quyển tà thuật lúc nào cũng đi kèm với cách phản tà thuật và phép giải chú hết cả!”, Lona cười khì. “Ồ! Thế sao? Ra là vậy! Tôi chưa đọc qua quyển sách bao giờ, và chỉ mang theo lần đầu tiên khi ra khỏi Berryfield!”, Niranda e ngại nói, giọng nghi ngờ.

Con ngựa đốm và Niranda không đánh giá cao về quyển sách, hay nói đúng hơn, cả hai không đánh giá cao về nghi lễ gì đó của Kitar Lona. “Này Lona! Chính xác thì cô vẫn chưa nói rõ là mình đang chuẩn bị cho nghi thức gì vậy?”, Niranda vẫn chưa muốn dừng câu hỏi lại. “Nhiều năm trước, khi Littleland chứng kiến cuộc hành quân của vua Karyimar, nghi lễ này đã được người Noãn Đà La ghi chép lại trong các quyển phản tà thuật của một lão già xứ Berryfield. Nhờ có quyển phản tà thuật này, người dân của chúng ta đã cứu rỗi sự diệt vong dành cho Littleland, được gây ra bởi phép tà thuật của lũ pháp sư Zaduin.”, Lona kể rõ.

“Thế có liên quan gì đến đoàn của ta hiện giờ?”, con ngựa hỏi. “Tà thuật nói chung ngựa đốm à! Nghi lễ này gồm mười hai khóm hoa dại, như mười hai chủng loài xuất hiện đã được người Noãn Đà La dự báo.”, Lona đáp. “Mười hai lận cơ á?”, con ngựa không giấu được vẻ kinh ngạc. “Phải! Mười hai chủng loài đan xen giữa thiện và ác làm cho con mắt của tà thuật náo loạn, nó sẽ không phân ra được nên tấn công hay nên cúi đầu khuất phục!”, Lona xoa đầu con ngựa đốm. Niranda nhớ lại mười hai dòng chữ Ruhhin nhỏ, mờ mờ ảo ảo, nằm phía dưới dòng chữ Ruhhin lớn, cậu vẫn không nhớ mười hai dòng chữ nhỏ nói gì, cậu chỉ ngờ vực rằng mười hai dòng chữ kia có thể liên quan đến nghi lễ mười hai khóm hoa. Sau gáy của Kitar Lona có một con dấu, màu đỏ nhạt. Khi Lona khuỵu xuống cạnh con ngựa, Niranda nhận ra được dấu ấn này. “Tôi đã thấy con dấu này. Nó là của địa chủ ở Littleland.”, cậu mách lớn. “Cha ta là Irshi Dune White, và ông vốn là địa chủ của một vùng rộng lớn ở xứ Littleland.”, Lona thất vọng nói. “Còn điều gì mà cô giấu đoàn nữa không vậy, Lona?”, con ngựa ngậm môi, phách lối hỏi. “Tự hiểu đi.”, Lona đáp.

Nhà khách Flinffer nằm cuối con đường này, và đoàn người và ngựa không thể ngủ ngoài trời lạnh suốt đêm nay. Họ liền tranh thủ một dịp hiếm có, Niranda vác giỏ đồ ăn giúp Kitar Lona lên lưng con gia súc, con ngựa đốm cà lộc chở nặng cả hai cái giỏ, một cái rỗng và một cái đầy. Số mười hai, một con số không kém sự quan trọng nữa, hiện ra dưới miếng ván gỗ ép sát cột nhà, và xa hơn, trên chiếc cầu gãy đằng sau pho tượng con gấu đá, hoa màu đã đông cứng vì lạnh. Đoàn người và ngựa muốn đến nhà khách phải đi vòng qua một vũng lầy sâu ngoáy, chết người, và vòng qua xong thì họ phải vin chặt vào lan can chiếc cầu gãy để đặt chân đến nhà khách, một quy luật tất yếu ở đồng cỏ Lúa Chết.

“Thật là khó khăn!”, con ngựa than. “Thượng Đế có lẽ thích ngắm nghía sự chịu đựng của con người nên ông ta đã bày ra đủ trò chơi!”, con ngựa không ngớt miệng. “Yên lặng ngựa đốm!”, Kitar Lona kéo sẵn dây cung. Niranda lồm cồm phía sau, cậu cầm sẵn một thanh gươm nhỏ do Lona đưa cho. Niranda chưa đến độ tuổi phải lấy vợ, và cậu chưa một lần nào nghĩ đến chuyện con cái. Việc đi sau một người con gái và coi như nàng là một lá khiên là không có gì nghiêm trọng đối với Niranda.

Cái chuông gió tòn ten, nhuộm áo tuyết, không kêu lớn nổi. Nhà khách Flinffer cao hơn hai người trưởng thành ngồi chồng lên nhau. Dưới nhà có một lối đi vòng ra sau, hơi ẩm, và hôi nữa. Tuy nhiên, không còn cách nào khác, đoàn người và ngựa phải chấp nhận đi vòng, một chủ đề xoay quanh nhà khách Flinffer. Ở đây có một cái kệ sách, sách trên kệ nhàu và mục, sát bên cái kệ có một cái tủ đồ ăn giống với cái ở phòng Blurry nhưng màu xám. Qua khỏi kệ sách và tủ đồ ăn là một cái lò rèn, nguội hơi từ lâu, không còn mùi của nhiên liệu. Niranda chúi người sang con ngựa, tay của cậu tỉ mỉ thò vào miệng lò rèn và lấy ra ngoài một thanh gươm khác, dài hơn cái của Lona cho cậu, nghe có vẻ khoái chí hơn.

“Sao ở đây lại có xác pháo?”, Niranda hỏi cả hai người và ngựa còn lại. “Thế nghĩa là sao? Lũ phù thủy của Karyimar, hay một pháp sư nào đó làm rơi?”, Lona hỏi. “Tôi không nghĩ vậy cô gái à! Có lẽ là một nhà nguyện cũ được phá dỡ để xây nên nhà khách Flinffer này.”, con ngựa đáp.

Cả đoàn lẻn vào được nhà khách ở lối sau. Trong sảnh, nhà khách chia ra thành năm sáu vách phòng nhỏ khác, có rượu lai giống với rượu gỗ sồi Milar, một ít thịt cừu còn mới, vừa nấu xong, được đặt ngay ngắn trên một cái đĩa sắt ngoài bàn chờ của phòng khách. Ngoài sảnh có một người đàn ông và một thằng nhóc, độ tuổi vào khoảng năm mươi và mười lăm, lau lần lượt mỗi cái bàn từ trái sang phải, và cả hai người lạ kia lau luôn cỡ mười đến mười hai chiếc ghế ngồi cũ kỹ khác.

“Nhà khách Flinffer đón chào quý khách!”, một ông già khác quay mặt vào cửa nhà, đối diện với lão. Ông già vừa trở ghế ngược lại, giọng quãng cao, gửi một lời chào rất thân thiện dành cho đoàn người và ngựa của Niranda. “Hãy gọi ta là Charl, người con ghẻ của cánh đồng Lúa Chết!”, lão dõng dạc nói.

Lão không cao lắm, chỉ vừa hơn Niranda đúng một chiếc cốc rượu. Lão có gương mặt méo mó và hàm râu dê màu trắng, già hơn số tuổi thật, và lão đã hơn một trăm tuổi. Hôm nay là sinh nhật của lão, một ngày trọng đại, không thể nào để lỡ được. Nhân viên của nhà khách đang lau chùi bàn ghế, dọn dẹp phòng sảnh, chăm sóc một vài chậu kiểng héo úa mà họ đã đặt vào nhà khách hơn một tháng trước. “Chỉ là đám cỏ chết các bạn ạ! Không có gì phải bận tâm!”, lão tự tin. “Đồ ăn nhẹ và nước ấm cho khách nào các cậu!”, lão ra lệnh cho hai nhân viên.

Họ cắt một nhánh cỏ đang chết, pha một ấm nước sôi, chờ nguội một xíu, rồi đổ nước ấy vào lắp xắp giữa một tĩnh rượu cũ và trộn đều với cỏ chết. Trà nóng đã hoàn tất, đồ ăn nhẹ đã xong, lão chỉ chờ có người đến chung vui với lão. Hai người nhân viên khuân một băng ghế đóng kín mạng nhện, một chiếc ghế lớn, làm từ gỗ Bạch Dương có bọc kín lớp da gấu ở ngoài. “Đây là da của con gấu mà các người… đã tạc tượng cho nó sao?”, con ngựa hỏi. Lão Charl râu trắng chỉ gượng cười, rót một vài ly trà nóng ở trên bàn ngay khi thằng nhóc mười lăm tuổi vừa lau xong. “Trà hoa cúc! Xin mời!”, Charl ngưỡng miệng.

“Xin lỗi! Tôi rõ ràng là đã thấy… cỏ chết!”, con ngựa đốm nói. Lão râu trắng đập tay lên mặt bàn một cái đoàng, gỗ sàn nhà chấn động, kêu lên kẽo kẹt. “Là hoa cúc!”, lão mách lớn dữ dội. “Là hoa cúc ngựa đốm à! Là trà hoa cúc!”, Niranda nháy mắt ra hiệu cho con ngựa đốm. Kitar Lona vẫn giữ im lặng, cô chưa rời ngón tay cái khỏi đầu cung, một tay còn lại xuôi dọc theo người, chưa can đảm động vào ly trà nóng đen đặc sờ sờ ngay trước mắt.

“Chúng tôi chỉ muốn xin ở nhờ hết đêm nay.”, Niranda mở lời. “Được thôi! Các bạn luôn được chào đón ở đây!”, lão khinh khích cười. “Hôm nay là sinh nhật của lão, lão cần một món ngon nhâm nhi với rượu Milar, một món ngon được đặt chần vần giữa một cái bàn gỗ, chắc nịch, nằm chắn ngang đại sảnh của nhà khách!”, lão mượt mà, lớn giọng nói.

Lão Charl kể rằng, đây là lần đầu sau hơn năm mươi năm mà lão được chứng kiến nhà khách Flinffer có đến nhiều người như vậy. Từ khi đám cưới không êm đẹp của lão diễn ra, lão trở nên khó khăn hơn, và người vợ quá vãng của lão đi lấy chồng khác ở xứ Littleland. Trái lại, lão râu trắng Charl không một lời oán trách, không một hành động khiếm nhã nào để giành giật người vợ kia về với lão. Thay vào đó, lão ngày càng có nhiều ý nghĩ sâu xa hơn về con người, và lão bắt đầu giao du với người dân ở Berryfield mỗi khi có dịp vận chuyển rượu Milar về xứ. Lão kể chuyện không được hớn hở cho, và mắt trái của lão rung lên liên hoàn.

“Vận chuyển rượu Milar về Berryfield á?”, con ngựa nghi ngại. “Làm gì có chuyện người ta sản xuất rượu Milar ở cánh đồng Lúa Chết và mang về Littleland được cơ chứ?”, con ngựa vẫn không tha cho lão. “Rượu Milar vốn nổi danh ở đất Lordfeld Sha của người rừng cơ mà!”, Kitar Lona nói dồn dập, giọng rất lớn. “Ở đây, rượu Milar vẫn được sản xuất để đáp ứng nhu cầu của người dân kia mà!”, lão đáp trả. “Từ khi nào?”, con ngựa hỏi. “Hơn hai mươi năm qua!”, lão Charl ngẩng cao đầu, miệng không cười giòn giã như lúc nãy. Niranda có cảm giác không ổn, cậu vẫn giữ thái độ hòa hoãn, không đoái hoài hay dự đến cuộc cãi vã.

Kitar Lona nghi ngờ lão Charl râu trắng, cô siết chặt vào mũi tên, một đầu cung được lận sát dưới giày. Niranda ngăn cản, không cho phép cô làm náo động chuyện mà hai người đã rõ. “Không khéo sẽ làm cho cái ác nắm được vị trí của chúng ta!”, câu nói được Niranda giao ấn qua ánh mắt dành cho Kitar Lona. Cô đồng ý và khóa miệng con ngựa với sợi dây cương trên lưng nó, lôi cả đoàn người và ngựa vào một phòng nhỏ cuối đại sảnh.

“Đề phòng ông lão, Niranda!”, Lona khe khẽ nói. “Tôi hiểu rõ điều mà hắn ta đang làm.”, Niranda nhỏ giọng. “Câu chuyện của gã râu trắng… không có thật!”, Niranda khảng khái. “Làm gì có chuyện rượu Milar được sản xuất ở đây và được vận chuyển về Littleland được cơ chứ!”, Lona cau có. “Vậy lão ta là ai?”, Niranda nhắn mặt lại một cách khó hiểu. “Con ngựa đốm đâu rồi?”, Lona hỏi. “Nó đang ngủ ở sau lưng chúng ta!”, Niranda đáp. “Hãy gọi nó dậy!”, Kitar mách. “Vì sao lại gọi nó dậy? Nó đã mệt mỏi suốt cả tháng trời chở người rồi! Hãy để cho nó được chợp mắt một giấc thật sâu trước khi cả đoàn đi đến Alnimar trên nẻo đường còn lại.”, Niranda đảo mắt chậm rãi về phía con ngựa đốm, cậu vẫn không quên dành cho Lona một cái nhìn khác dịu dàng hơn.

“Là Balvoc, Niranda à!”, Kitar cắn răng nói. “Cái gì? Balvoc là cái quái gì? Cô nói gì tôi không hiểu nổi!”, Niranda mệt mỏi. “Lão Charl ở nhà khách này là một con mãnh linh Balvoc giả dạng! Nhà khách Flinffer là hang ổ của nó, nó đã đội lốt nơi này với một dáng vẻ cao siêu hơn, lộng lẫy hơn. Thử quan sát xung quanh đi Niranda, không có nổi một người, ngay cả đám nhân viên lau chùi quét dọn ở đại sảnh cũng là do con mãnh linh huyễn hóa ra!”, Kitar Lona cầm chắc lưỡi gươm nhỏ, và quyển sách tà thuật mà Niranda đã trao cho cô. “Thế nên hai người nhân viên ở đại sảnh không hé nổi một lời nào! Bọn họ chỉ là thứ ma thuật được tạo nên!”, Niranda nhận ra sự thật.

Chỉ cần hai người họ rời khỏi đây, và không làm kinh động đến giấc ngủ của con quái vật Balvoc đội lốt lão già Charl, mọi chuyện sẽ không có gì quá phức tạp, một điều nên làm và nên làm ngay lúc này. “Con ngựa đâu rồi?”, Lona hỏi. “Nó vừa ở ngay đây mà!”, Niranda hoảng hốt. Trong khi hai người nói chuyện về lai lịch của lão Charl, con ngựa đốm đã mộng du rời khỏi căn phòng nhỏ trong đại sảnh, kéo theo cả mười than thuốc phân dê và giỏ đồ ăn của Lona trên mông của nó. Kitar Lona và Niranda khẽ choài người ra bên ngoài cánh cửa mỏng, người sau vin vào đai lưng của người đang quan sát mọi chuyển động trong đại sảnh.

Họ thấy con ngựa vẫn đang ngủ, và nó nằm trên một cái khay đồ ăn thật lớn, được lão Charl và hai người nhân viên đặt chễm chệ giữa phòng khách, có đính lên một vài lát cải thảo khô khan và những quả cà chua mốc meo, mềm nhũng. “Chết rồi!”, Niranda hô nhỏ sau lớp cửa mỏng vánh. “Chuyện gì đang diễn ra ngoài đó?”, Lona gấp gáp hỏi. “Lão râu dê và hai tên lâu la đang sắp sửa ăn thịt con ngựa đốm của tôi!”, Niranda nhắn nhó đáp.

Lão râu dê vác một con dao mổ thịt ra bàn, hai người nhân viên kéo hai chân hai tay của con ngựa đốm duỗi thẳng ra. Tiếng khua dao và mài dao kêu lẻng kẻng làm con ngựa đốm hối hả kết thúc giấc mơ đẹp. “A!”, nó la lên một phát lớn, kinh hoàng, và mặt nó xanh xao hơn hẳn màu xám đốm. Lão Charl hiện nguyên hình thành một con Balvoc khổng lồ, miệng nhai lửa, sau mông có đuôi roi, người rộng vai như một con gấu nâu đang đói khát con mồi. “Cứu tôi với!”, con ngựa đốm la làng. “Làm sao đây Kitar Lona?”, Niranda hoảng loạn. Con mãnh linh Balvoc há họng lớn, lửa cuộn vòng vòng ngay hàm răng nanh còn nhọn hơn cả cọc giáo ngoài chiến trường. Chỉ cần con quái vật cạp một cái là con ngựa đốm sẽ đi gặp Thượng Đế ngay.

Kitar Lona và Niranda xông ra, cả hai nâng thanh gươm của mỗi người lên và chắn ngang hàm răng ngậm lửa của con Balvoc. Với một nhát chém có tốc độ cao, miệng con Balvoc xì khói ra, đặc lườm, kéo dây dây dọc dọc, lửa dính lên trần nhà khách, rơi xuống cháy ra mạt gỗ khét. “Con yêu quái đáng chết!”, Kitar Lona nhào qua người của con mãnh linh Balvoc, đâm một dao và rạch một lằn dài in lên cột sống lưng của con hỏa quái. Nó gầm gừ Kitar Lona. Trong giờ khắc quan trọng, cô dang kiếm ra hết sức có thể, lộn một vòng và kề sát lưỡi gươm vào thân con quái.

Con Balvoc không phải dạng vừa. Nó hóa ra lão địa chủ Irshi Dune White, người cha đã chết của Kitar Lona. “Cha đây con gái!”, địa chủ gọi. “Cha!”, Kitar Lona khựng lại lưỡi dao sắc, xuôi xuống và sắp rời thanh gươm. “Sao con không dành cho cha một sự yêu mến đoàn viên mà lại vung gươm vào cha thế?”, Irshi Dune hỏi lớn. Kitar đi đến chỗ con Balvoc. Với hình hài một người cha đáng kính của Lona, nó dễ dàng chiêu dụ và làm chủ cô gái. “Kitar! Cha của cô đã chết rồi! Đó là một con Balvoc!”, Niranda chạy sang chỗ của Kitar, mắng thật lớn.

Kitar lạc hết vía. Cô nhận ra con yêu quái đã sử dụng tà thuật hắc ám, và giả dạng con người hòng cám dỗ nạn nhân. “Khóm hoa dại, Lona!”, con ngựa đốm nhắc nhở. Kitar moi ra một khóm hoa trong mười hai khóm hoa nghi lễ ở dốc rìa mặt hẻm, ngậm vào miệng, và nâng thanh gươm lên, chém thật mạnh vào người của con hỏa quái Balvoc. Đuôi của nó rã ra mỗi nơi mỗi khúc, đầu nó ngước lên, ghì sâu, níu lấy trần nhà, miệng lửa của con quái la lên không ra hơi và nổ xoàng một cái. Nhà khách Flinffer không còn một ai khác ngoài đoàn người và ngựa, Niranda, Kitar và con ngựa đốm. Buổi lễ sinh nhật của lão Charl râu trắng hóa ra lại là nghi thức chiêu cảm và diệt trừ cái ác của Kitar Lona. Nhà khách số mười hai, một con số quan trọng khác, mà dính liền với nghi lễ phản tà thuật của Noãn Đà La ghi chép cho người dân ở Littleland.

“Cút đi đồ sâu bọ!”, ngựa đốm chửi. “Thôi được rồi! Lên đường kẻo chậm trễ ngày hội quân ở Alnimar Firis!”, Niranda kéo con ngựa đi khỏi nhà khách.