Chương 18: Chuyện cũ

Đoàn người trở lại thôn Trấn Tiền không bao lâu, đã có khá nhiều dân làng biết tỷ đệ Đường Thanh Mãn, “Đường Tư Tiên” đã nhập hộ tịch nơi đây.

Bây giờ Đường Tư Hải đã rời khỏi thôn, Đường Tư Tiện cũng không trêu chọc những dân làng khác, việc nàng nhập tịch cùng lắm chỉ khiến một vài người bàn tán, chứ không gây ra xôn xao gì.

Đường Thanh Mãn e ngại dân làng bàn tán nhà họ Tần thiên vị tỷ đệ nàng, vì không muốn gây phiền phức cho nhà họ Tần, nên ban đầu đến nhà họ Tần vẫn còn đôi chút cẩn trọng. Sau này thì cứ quang minh chính đại mà đến, không còn lo những lời ra tiếng vào nữa.

So với vẻ hướng nội, ít nói thường ngày, Đường Thanh Mãn hoạt bát hơn một chút khi cùng Tần Trinh may vá quần áo mùa đông.

Tô thị cũng rất mừng khi nàng đến nhà chơi, nhân lúc nàng ra ngoài đổ nước, bèn cùng nàng trò chuyện: “Những đứa con gái lớn lên cùng Trinh Nương gần như đều đã lấy chồng, hơn nữa từ khi sức khỏe nó yếu đi, nó cũng không thích đến nhà người khác chơi, nên ngươi có thể đến, ta cũng mừng thay cho nó.”

Đường Thanh Mãn đỏ bừng mặt, nàng đến nhà họ Tần thật ra cũng mang chút lòng riêng. Vì nàng từ phòng nuôi tằm trở về thì trời rất mau đã tối sầm lại, nếu ban đêm may vá quần áo mùa đông thì phải thắp đèn. Để tiết kiệm dầu, đành phải sang nhà họ Tần dùng ké đèn.

Tần Trinh không hề phát hiện ý đồ của nàng, còn xem nàng như chị em tốt, điều này khiến Đường Thanh Mãn, người hiếm khi lợi dụng người khác, cảm thấy bất an và hổ thẹn.

Để che giấu sự chột dạ, nàng hỏi theo lời Tô thị: “Sức khỏe của Trinh Nương yếu đi từ khi nào? Có phải bị thương không?”

Tô thị nghĩ lại, ký ức có chút mơ hồ: “Chắc là năm năm trước, nó mắc một trận cảm lạnh, sau đó sức khỏe cứ yếu dần. Trước đó, nó khỏe mạnh lắm, hoạt bát như một con khỉ con vậy.”

Tô thị nhắc đến việc này, tâm trạng cực kỳ phức tạp: “Sau khi không thích qua lại với mọi người, nó suốt ngày chỉ có thể ru rú trong nhà, nhưng nó là đứa con hiếu thảo, dù sức khỏe không tốt cũng sẽ giúp chúng ta làm việc. Vì nghĩ cho sức khỏe của nó, chúng ta chỉ có thể để nó làm chút việc nhẹ nhàng. Nhưng dù vậy, rất nhiều nhà đều chê sức khỏe nó không tốt, vai không vác nổi, tay không xách nổi… Càng có lời đồn không biết từ đâu ra nói rằng thân thể này khó bề sinh nở!”

Đường Thanh Mãn có phần đồng cảm với Tần Trinh: “Vậy chuyện trăm năm của Trinh Nương…”

Tô thị không biết đã nghĩ đến điều gì, sắc mặt tái xanh: “Người chính thức đến cửa cầu hôn chỉ có một, đó là chuyện của bảy năm trước…” bà ngừng lại, “Thôi, đều đã qua rồi, không nhắc tới nữa.”

“Không làm phiền các ngươi làm việc may vá nữa, ngươi vào đi!”

Tô thị nói xong liền trở về phòng.

Đường Thanh Mãn trở lại phòng dệt, thấy Tần Trinh đứng ở cạnh cửa, bất thình lình bị dọa giật nảy mình.

“Trinh Nương! Sao ngươi lại ở đây?” Đường Thanh Mãn vỗ ngực, bắt gặp đôi mắt long lanh mà sâu thẳm của Tần Trinh, tức thì chột dạ, “Ngươi nghe trộm đấy à?”

Tần Trinh khẽ mỉm cười, nốt ruồi son nơi khóe mắt khiến nụ cười của nàng thêm phần quyến rũ: “Vốn định đi ra ngoài, nhưng ngươi và mẹ đều nhắc đến ta, để tránh mọi người đều khó xử, nên không tiện đi ra.”

Đường Thanh Mãn càng thêm ngượng ngùng, trong lòng vẫn còn canh cánh lời Tô thị chưa nói hết, bèn hỏi: “Bảy năm trước đã xảy ra chuyện gì?”

Tần Trinh thản nhiên nói: “Lúc đó sức khỏe ta vẫn còn tốt, cũng thường đi lại trước mặt mọi người. Một người bạn học của đại ca đến nhà, gặp ta rồi nói là đã yêu ta từ cái nhìn đầu tiên, sau khi trở về liền viết cho ta một ít thơ từ.”

Nhắc đến những vần thơ đó, nụ cười của nàng không tới đáy mắt: “Theo cha mẹ và ta thấy, những vần thơ đó có thể xem là thơ văn dung tục. Sau này, đến tuổi cập kê, hắn còn cho người tới cửa cầu hôn, nhưng bị cha mẹ ta giận dữ từ chối.”

Đường Thanh Mãn thầm tính, Tần Trinh nay mới mười tám tuổi, bảy năm trước cũng chỉ mới mười một tuổi.

Trong dân gian, tảo hôn không hiếm, chỉ là luật pháp quy định nữ tử phải đủ mười ba tuổi mới được thành hôn. Bạn học của huynh trưởng Tần Trinh lúc đó đã đến tuổi cập kê, chắc cũng mười tám, mười chín tuổi, hắn không chỉ để ý Tần Trinh nhỏ tuổi như vậy, mà còn viết thơ văn dung tục cho nàng, nghĩ thế nào cũng thấy khó chịu.

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó hắn không có cơ hội đến nhà ta nữa. Cha mẹ tuy không yêu cầu đại ca phải cắt đứt qua lại với hắn, nhưng đại ca cũng coi thường nhân phẩm của hắn, nên đã cắt đứt quan hệ. Sau này nữa nghe nói hắn đỗ tiến sĩ, rồi bặt vô âm tín.”

Lòng căm ghét của nhà họ Tần đối với kẻ đó không hề thay đổi dù hắn đã đỗ tiến sĩ, cho dù nhiều năm như vậy hắn chưa từng cưới vợ sinh con, rồi mang công danh đến cầu hôn Tần Trinh, nhà họ Tần cũng vẫn sẽ không đồng ý.

Đường Thanh Mãn chỉ nghe Tần Trinh kể lại chuyện cũ, nhưng chưa từng nghe nàng nói suy nghĩ của riêng mình, lại hỏi: “Trong lòng ngươi nghĩ thế nào?”

“Ta không có suy nghĩ gì, duy nhất chỉ thấy hổ thẹn vì đã để cha mẹ phải lo lắng.” Tần Trinh hỏi lại, “Còn ngươi? Ta hiếm khi nghe ngươi nhắc đến chuyện nhà.”

Ánh mắt Đường Thanh Mãn tối lại, nàng giờ đây cô độc một mình, không còn người thân, chuyện xưa người cũ nhắc lại chỉ khiến nàng thêm đau lòng, nên thường ngày gần như không nhắc đến.

Bây giờ Tần Trinh không biết chuyện, Đường Thanh Mãn cũng không cần phải để lộ nỗi đau này trước mặt nàng.

Nàng gượng cười, nói: “Mẹ ta mất vì bệnh khi chúng ta còn rất nhỏ, cha ta cũng qua đời vì bệnh ba năm trước. Khi đó ta mới biết, thì ra cha ta không phải côi cút một mình, ông ấy còn có anh em. Chỉ là vì năm đó ông ấy rời khỏi nhà họ Đường, nên mới lưu lạc xứ người, cưới mẹ ta, người cũng không có họ hàng thân thích…”

Trong ký ức của Đường Thanh Mãn, trước khi mẹ nàng qua đời, nhà họ tuy không giàu sang phú quý, nhưng gia đình bốn người cũng xem như hạnh phúc.

Tiếc là niềm hạnh phúc ấy quá đỗi ngắn ngủi, trôi qua nhanh đến vậy.

Mẹ nàng qua đời, cảnh nhà tang thương. Nàng tỉnh lại sau cơn đau buồn, gánh vác việc nhà, cho đến khi cha nàng qua đời, nàng cũng chưa từng dành thời gian để nghĩ đến chuyện trăm năm.

Sau khi cha nàng mất, tỷ đệ họ để tang ba năm, nàng lại càng lỡ làng chuyện cưới hỏi.

Sau đó còn phải hoàn thành di nguyện của cha, – dù không rõ vì sao cha nàng lúc lâm chung mới trăn trối lại di nguyện như vậy, nhưng chắc hẳn lúc trước có ẩn tình gì đó, có lẽ ông ấy hối hận, có lẽ không cam lòng!

Tần Trinh chưa từng trải qua nỗi đau sinh ly tử biệt, nhưng cũng có thể cảm nhận được nỗi đau của Đường Thanh Mãn. Nàng nhẹ giọng hỏi: “Trước đây cha ngươi có từng nói với ngươi vì sao ông ấy phải rời khỏi nhà họ Đường không?”

Đường Thanh Mãn lắc đầu: “Ông ấy chưa từng nhắc đến.”

Nàng cũng tò mò, nghĩ bụng, nếu biết cha nàng rời khỏi nhà họ Đường vì lý do gì, có lẽ có thể bắt đầu từ phương diện đó.

Chỉ tiếc là lứa trẻ nhà họ Đường trước khi tỷ đệ nàng xuất hiện, thậm chí còn không biết năm đó có người rời khỏi gia tộc, nên không thể biết được nguyên do từ họ. Mà đại bá phụ của nàng, Đường Tài Thăng, đối với việc này cũng mang vẻ mặt kín như bưng, lại càng không nói cho họ biết.

“Chuyện đến nước này, ngươi còn muốn về nhà họ Đường không?” Tần Trinh lại hỏi.

“Ta không nghĩ sẽ về nhà họ Đường để mượn thế lực gia tộc cho bản thân sống tốt hơn, chỉ là đó là di nguyện của cha ta. Bây giờ họ đều mất cả rồi, nếu ta không hoàn thành, cũng không còn mặt mũi nào xuống suối vàng gặp họ.”

“Nhưng ta thấy thái độ của em trai ngươi, dường như không muốn về tộc cho lắm.”

Đường Thanh Mãn nhớ đến “Đường Tư Tiên” bây giờ là một người khác, tâm trạng nàng có chút kỳ lạ. Một lúc sau mới cười nói: “Ta không biết nàng có ý đồ gì, nhưng nàng không phải người dễ nuốt lời.”

Hai người vừa nhắc đến Đường Tư Tiện trong phòng, ngoài phòng đã vang lên tiếng của Tần Vu: “Sao ngươi cứ chạy sang nhà ta hoài vậy?”

“Trời tối rồi, ta đến đón tỷ tỷ. Chẳng lẽ Hương Thư Thủ không muốn gặp ta? Nhưng ta rất nhớ Hương Thư Thủ, một ngày không gặp tuy không nói là cách ba thu, nhưng hai thu thì cũng có.”

Nghe thấy lời nói vừa lẳиɠ ɭơ vừa bỡn cợt này, hai người không cần nghĩ cũng biết là ai nói.

Tần Vu tức đến nghiến răng. Tên nhóc này từ khi nhập tịch vào thôn đã hoàn toàn xem mình là người trong thôn. Nàng vừa tự nhiên như ruồi, lại vừa mặt dày, có lẽ vì cô đơn buồn chán nên bắt đầu ra tay với những người xung quanh, – người bị những lời buồn nôn của nàng làm cho ghê tởm tuyệt không chỉ có mình Tần Vu.

Quan trọng hơn là Tần Vu vẫn luôn đề phòng nàng ra tay với Tần Trinh, ấy vậy mà lần nào nàng cũng có cớ để chạy sang nhà họ Tần.

“Cút!” Tần Vu trở về phòng, rầm một tiếng đóng cửa lại.

Đường Thanh Mãn mang theo quần áo mùa đông may dở và vải thừa, từ trong phòng Tần Trinh đi ra, không nhịn được nói: “Tư Tiên, ngươi… ngoan một chút.”

Đường Tư Tiện: “…”

Bị một cô nương nhỏ hơn mình năm tuổi dạy dỗ phải ‘ngoan một chút’, nàng nổi cả da gà. Nhưng ai bảo bây giờ nàng đang mượn thân phận em trai người ta cơ chứ? Xem ra đây là trời cao trừng phạt nàng vì tội giả non.

Tần Trinh tiễn Đường Thanh Mãn ra cửa, lại hẹn ngày mai dạy nàng dùng khung cửi, Đường Thanh Mãn mới cùng Đường Tư Tiện trở về.

Trên đường về, Đường Thanh Mãn nói nhiều hơn trước, tần suất nhắc đến Tần Trinh cũng ngày một cao.

“Trinh Nương vĩ đại thật, không chỉ biết dệt vải, mà còn biết cả y thuật, tuy nàng nói là do bệnh lâu ngày thành thầy thuốc, nhưng theo ta thấy cũng rất giỏi rồi!”

Đường Tư Tiện cũng khen theo lời nàng: “Đúng là rất giỏi.”

Đường Thanh Mãn hồi tưởng lại cuộc trò chuyện với Tần Trinh, cả hai ít nhiều gì cũng đã nói chuyện nhà. Nhưng nàng quen biết Đường Tư Tiện đã lâu, mà Đường Tư Tiện lại chưa từng nhắc đến thân thế và chuyện gia đình mình.

Nhiều lần lời đã đến bên môi, nàng cuối cùng vẫn nuốt trở vào. Nàng không thể không cho rằng có lẽ trong lòng Đường Tư Tiện vẫn chưa từng xem nàng là người đáng tin cậy, nên mới im lặng không nói.

Nếu đã vậy, nàng có hỏi cũng không nhận được câu trả lời, vậy cớ gì phải phá vỡ cách chung sống hiện tại?

Thoáng cái đã đến cuối tháng Tám, Giang Nam dần có hơi thu, màu lúa trên đồng cũng dần chuyển từ xanh mướt sang nửa xanh nửa vàng.

Trước mắt đúng là thời điểm xanh vàng giao mùa, thêm một tháng nữa, dân làng cũng sắp bước vào vụ gặt mùa thu. Trước đó, dân làng tương đối nhàn rỗi, nhiều nhà nhân lúc nông nhàn bắt đầu chuẩn bị quần áo mùa đông, người lên huyện thành cũng đông hơn thường lệ.

Một ngày trước khi sang tháng Chín, có một dân làng từ huyện thành trở về, mang theo tin tức con trai của Tần Vu là Tần Nguyễn Luân đỗ cử nhân.

Người dân làng đó về thôn liền chạy thẳng đến nhà họ Tần, như thể tranh công mà gọi lớn: “Hương Thư Thủ, Tần Đại Lang đỗ cử nhân rồi! Ta thấy bảng vàng ở nha môn!”

Tô thị kích động chạy ra: “Thật sao?!”

Tần Vu ra sau một chút, nhưng thấy mặt hắn đỏ bừng, nghĩ bụng cũng đang vô cùng kích động, chỉ là ngại giữ mình mà không dám biểu lộ ra mặt.

“Thật mà, ta thấy rồi, thôn Trấn Tiền, Tần Nguyễn Luân, tổng cộng chỉ có hơn ba mươi người đỗ cử nhân, hắn xếp thứ mười hai đấy!”

Thứ hạng của Tần Nguyễn Luân tuy ở giữa, nhưng kỳ thi Hương là kỳ thi của triều đình mà học trò cả châu đều tham dự, số người lên đến mấy trăm, thậm chí hơn một ngàn. Số người đỗ ở mỗi châu nhiều thì mấy chục, ít thì mười mấy, Tần Nguyễn Luân có thể nổi bật giữa bao nhiêu người như vậy, đủ thấy sự ưu tú của hắn.

Tần Vu trong lòng kích động, nhưng mặt vẫn ra vẻ bình tĩnh, nói: “Đại Lang còn chưa về, mọi chuyện vẫn chưa chắc chắn…”

Dân làng vây xem cười nói: “Tần Đại Lang vẫn luôn ở châu phủ chờ tin tức phải không! Công văn của quan phủ truyền về luôn nhanh hơn, nhưng tin của hắn chắc không quá hai ngày nữa cũng về tới thôi.”

“Chúc mừng Hương Thư Thủ!” Một dân làng lanh lợi đã tiến lên chúc mừng.

“Khách sáo, khách sáo quá!” Cuối cùng Tần Vu vẫn không nén được niềm vui trong lòng, cất tiếng cười to.

Ở trong phòng nghe thấy tin tức, Đường Thanh Mãn cũng cười chúc mừng Tần Trinh, nụ cười trên mặt Tần Trinh không tắt, chỉ là vui mừng qua đi lại không nén được mà lặng lẽ thở dài.