Chương 3.1

Tổ phụ dâng thư thỉnh cầu đưa nàng về Thông Châu, không phải là muốn nàng chịu khổ, mà rõ ràng là để hưởng phúc. Trong ký ức của nàng, cuộc sống ở Thông Châu đã bắt đầu từ lâu, đến năm mười lăm tuổi mới biết được thân thế của mình. Thì ra lúc ba tuổi, trên đường đi phụng lễ, nàng bị bọn buôn người bắt cóc. Sau đó, không biết bị sang tay bao nhiêu lần, cuối cùng rơi vào tay bọn buôn người ở Thông Châu. Chúng vốn định bán nàng cho nhà giàu làm nha hoàn, hoặc đem gả cho ai đó làm con dâu nuôi từ bé.

May mắn thay, dưỡng mẫu đi ngang qua, vừa vén rèm kiệu nhìn thoáng đã đem lòng thương mến nàng. Khi ấy, dưỡng mẫu vừa trải qua nỗi đau mất con, nên đã mua nàng về, chăm sóc nuôi nấng như con ruột. Đến năm bảy tuổi, cha mẹ nuôi chẳng may qua đời, nhưng nàng lại được tổ phụ yêu thương hết mực, chiều chuộng đến mức chẳng còn biết sợ trời sợ đất.

Thông Châu tuy dân phong thô lậu, nhưng lại chân chất, thuần hậu. Ở đó, nàng đã trải qua những năm tháng niên thiếu vô ưu vô lo. Nhìn nét chữ nghiêm cẩn, khuôn phép của tổ phụ, nàng chợt thấy chua xót mà nghĩ: “Giá như năm ấy không rời khỏi Thông Châu thì hay biết mấy.”

Tổ phụ vốn có ý dâng thư vào cung, thỉnh cầu Thái hậu động lòng thương xót mà ra tay cứu nàng. Nhưng ông chỉ là một thương nhân, làm sao có thể dễ dàng dâng thư tiến cung? Dù có gửi kèm bức danh họa hiếm có, thì cũng không ai dám thay ông chuyển thư vào hậu cung. Giả sử thật sự may mắn, thư có thể đến tay Thái hậu, thì thử hỏi, lấy gì để Thái hậu phải bận tâm? Trong mắt Thái hậu, nàng chẳng qua chỉ là một đứa cháu gái xa cách, chẳng mấy thân tình. Khi ấy, hẳn tổ phụ đã viết bức thư này trong nỗi xót xa vì thương cháu gái. Có lẽ người không ngờ, người đầu tiên đọc được bức thư ấy lại chính là nàng.

Xuân San nhìn vóc dáng gầy gò, tiều tụy của tiểu thư, lòng đau như bị bóp nghẹn. Trước khi rời Thông Châu, nàng từng vỗ ngực hứa với lão gia sẽ bảo vệ nương tử chu toàn, tuyệt đối không để nàng chịu nửa phần ủy khuất. Nhưng Phụng Đô là nơi nào chứ? Là chốn mà chỉ một hòn đá rơi xuống cũng đủ đè chết ba vị quyền quý trong hoàng thành.

Nàng chỉ là một tỳ nữ nhỏ bé, lấy thân phận gì mà lên tiếng? Cho nên dù Đậu Du phải gánh nỗi oan thấu trời, dù nàng có lòng muốn thay chủ giải oan, thì cũng chỉ như con kiến lay cổ thụ, yếu ớt, vô lực, bị người giẫm đạp dưới chân.

Hiện giờ Đậu Du đã được giải trừ cấm túc, Xuân San cũng không kìm được mà trút hết nỗi uất ức đã nghẹn hơn một năm trời: “Lúc trước lão gia khuyên người đến Phụng Đô nhận thân, nói Phụng Đô giàu sang phồn hoa, hóa ra tất cả chỉ là lời dối trá! Chốn này sao sánh được với Thông Châu của chúng ta? Điện hạ, người nói xem...”

Thanh âm Xuân San bỗng nghẹn lại, bởi Đậu Du đang khóc. Nương tử từ nhỏ, mỗi khi giả vờ khóc thì tiếng vang lớn vô cùng, gào đến chấn động. Nhưng khi thật sự đau lòng, nàng ấy chỉ âm thầm rơi lệ, chóp mũi đỏ ửng, nước mắt lăn dài xuống má, lặng thinh không nói lời nào.

Bách Nương vội vàng lấy khăn tay lau nước mắt cho nàng, nhẹ nhàng vuốt ve lưng nàng, thì thầm an ủi.

Xuân San lập tức nín lặng, môi run run trách bản thân: “Nô tỳ lắm miệng, nói năng không suy nghĩ... Phụng Đô cũng tốt lắm, hiện giờ chúng ta đã thoát khỏi con hẻm ấy. Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai, về sau cuộc sống sẽ suôn sẻ hơn.”

Tâm trạng ấm ức và nỗi nhớ tổ phụ khiến nước mắt Đậu Du rơi như chuỗi ngọc đứt dây. Nàng cố kiềm nén, nhưng giọng nói cũng đã run lên, nghẹn ngào nói: “Ta chỉ muốn trở về Thông Châu, không muốn ở lại Phụng Đô nữa.”

Môi Xuân San run run, nàng xúc động nói: “Vậy... vậy chúng ta viết thư cho lão gia, không ở lại cái nơi rách nát này nữa, về nhà thôi!”

Đậu Du khóc một lúc rồi dần bình tâm lại, nước mắt vẫn còn đọng trên má, nàng thở dài: “Làm gì có chuyện nói đi là đi được?”

Xuân San đã gả cho người ở Phụng Đô, nàng sao có thể để Xuân San bỏ lại nhà chồng mà theo mình rời đi?

Hơn nữa, Đậu gia cũng đâu dễ gì để nàng rời khỏi. Năm xưa họ vất vả tìm ra tung tích của nàng ở Thông Châu, rồi lại trăm phương nghìn kế đưa nàng trở về. Hồ Vương Thăng lại càng không cho phép nàng rời đi, vì hắn luôn mong muốn nàng phải thay Đậu Kỳ ở lại Phụng Đô tận hiếu.

Khi Đậu Du rời khỏi nhà Xuân San, mới hay trời đã đổ tuyết, bầu trời cũng dần sầm tối. Bách Nương khoác lên người nàng chiếc áo choàng dày chuẩn bị sẵn, rồi giương dù đỡ nàng lên xe ngựa. Chờ nàng yên vị, xa phu giơ roi, đánh xe chạy về hướng trạch viện của Đậu gia.

Trên đường vẫn rộn ràng tiếng người, nàng ngồi trong xe ngựa đi qua cây cầu bắc ngang con sông Tứ Thủy. Dù đã buông rèm xe, nàng vẫn cảm nhận rõ không khí náo nhiệt bên ngoài, vậy mà trong lòng lại thấy xa lạ lạ thường. Lúc mới đến Phụng Đô, nàng thấy gì cũng mới lạ, luôn thích ra phố dạo chơi, còn cố ý tìm cách kéo Hồ Vương Thăng cùng mình dạo một vòng khắp các con đường.

Một năm chỉ mong được gặp hắn đôi ba lần, ấy vậy mà cũng phải hao tổn tâm trí mới có thể ép hắn xuất hiện, trách sao được hắn chán ghét đến mức thỉnh cầu Thánh Thượng nghiêm phạt nàng.

Thấy Đậu Du cứ ôm hộp thư từ Thông Châu, thần sắc đượm buồn, Bách Nương xót xa, vội nặn một nụ cười, dịu giọng nói: “Dạo gần đây trong thành có không ít thương nhân Hồ tộc đến buôn nhiều thứ đồ chơi mới lạ. Ban đêm trên phố còn có người dùng chùy tạo ra ánh sáng rực rỡ như hoa đăng, đẹp hơn cả pháo hoa nữa! Điện hạ chẳng phải vẫn muốn học múa sao? Ngọc Hà phường mới có mấy vị vũ cơ Hồ tộc, thân pháp uyển chuyển như nước, hay là ta thỉnh các nàng đến dạy người múa một đoạn?”

“Ta vốn dĩ chẳng có khiếu, học người ta để làm gì chứ.” Đậu Du vừa nói vừa vén màn xe nhìn dòng người nườm nượp trên đường.

Bầu trời vẫn lác đác rơi những bông tuyết vụn. Nàng cúi nhìn tay mình, gầy đến nỗi gân xanh hiện rõ trên mu bàn tay. Năm mười tuổi, nàng bỗng nhiên phát bệnh mà người gầy rộc đi, khiến tổ phụ sợ hãi, ngày nào cũng trông nàng ăn cơm. Người còn mời cả đầu bếp từ tửu lầu nàng thích nhất về làm điểm tâm, nấu mì, nặn bánh... chẳng bao lâu đã giúp thân thể nàng tròn trịa trở lại. Cảnh náo nhiệt ngoài xe ngựa so ra chẳng bằng một góc nhỏ trong ký ức nàng về Vọng Trang ở Thông Châu, nơi đó mới thật sự khiến nàng cảm thấy thân thuộc.

Từ lúc trở lại Phụng Đô, nàng gần như chưa từng có mấy ngày an vui. Tổ mẫu họ Đậu nghiêm khắc, thường xuyên so sánh nàng với Đậu Kỳ, nói nàng thua xa tỷ tỷ mình ở chỗ hiểu chuyện và lễ độ. Các vị chú bác trong nhà thì chẳng mấy khi quan tâm chuyện hậu viện, mà nàng lại không lớn lên bên cạnh họ, đương nhiên chẳng có bao nhiêu tình cảm. Ngoại trừ nhị ca Đậu Đình còn hợp tính, những huynh trưởng muội muội còn lại cũng không thân cận mấy, nhưng dù sao vẫn còn dễ chịu hơn Đậu Ích, kẻ luôn tìm cớ làm khó nàng.