Sau một lúc trầm mặc, nàng nhỏ giọng hỏi Thư ma ma: “Ma ma có bằng lòng cùng ta hồi phủ hay không?”
Thư ma ma thoáng sửng sốt, rồi nhẹ nhàng lắc đầu, đáp: “Lão nô đã quen ở chỗ này rồi.”
Tòa tiểu viện này tuy nhỏ bé, cũ kỹ, nhưng lại chất chứa một đoạn ân tình sâu đậm. Năm xưa, Đậu lão thái gia vốn là người buôn bán ở Tương Châu, đến năm Gia Bình thứ mười thì lên kinh ứng thí. Khi ấy, ông thuê trọ trong một gian nhà nhỏ ở hẻm Xuân Tỉnh. Bên cạnh có một bà lão hàng xóm thường lui tới giúp đỡ, chăm nom sinh hoạt hằng ngày. Về sau, ông công thành danh toại, còn bà lão ấy lại chẳng may lâm bệnh nặng rồi qua đời. Biết bà không chồng không con, chẳng ai lo hương khói về sau, Đậu lão thái gia để đáp lại nghĩa xưa bèn mua liền hai gian nhà trong hẻm, đập thông rồi tu sửa thành một tiểu viện. Gian nhà chính giữa dùng để lập linh đường, thờ phụng bài vị bà lão năm nào.
Thư ma ma và trượng phu của bà đã nhận nhiệm vụ quét dọn, trông coi nơi này từ khi còn trẻ. Sau khi trượng phu qua đời, Đậu lão thái gia cảm kích vợ chồng họ trung hậu tận tụy, bèn cho phép Thư ma ma đặt bài vị của chồng trong gian phòng bên trái, lập một tiểu linh đường riêng để hương khói.
Đậu Du ở tại sương phòng bên hông, sát ngay chính phòng nơi đặt linh đường. Khi mới đến, nàng sợ đến mức suốt đêm trằn trọc không ngủ, dù có thϊếp đi cũng thường mơ thấy ác mộng. Thế nhưng ở lâu rồi cũng thành quen. Nghe Thư ma ma kể rõ gốc tích nơi này, nàng dần nguôi ý kháng cự, nghiêm túc cúi đầu nói: “Đa tạ ma ma đã vất vả chăm nom bao ngày qua.”
Thư ma ma lau nước mắt, chân thành đáp: “Điện hạ nói vậy khiến lão nô thẹn lắm. Ngài là người tốt, không đáng phải chịu khổ lâu đến thế.”
Một năm nếu trôi qua trong an ổn vui vẻ thì sẽ thấy thật nhanh, nhưng với một kẻ bị giam cầm như nàng, mỗi ngày đều lê thê tưởng chừng không dứt.
Khi mới bị đưa đến đây, Đậu Du vẫn còn là một tiểu thư châu tròn ngọc sáng, nghịch ngợm không kiêng dè ai. Giờ đây, thân thể gầy rộc thấy rõ, khí sắc cũng nhạt nhòa, dường như đã thành một người khác. Cao Nghiêm đứng bên quan sát, trong lòng không khỏi kinh ngạc. Lúc này, dáng vẻ Khánh Vân Quận chúa lại càng giống hệt An Ngọc Quận chúa thuở sinh thời.
An Ngọc Quận chúa thuở trước là tuyệt sắc giai nhân, danh tiếng vang khắp Phụng Đô. Là tỷ muội cùng cha cùng mẹ với Đậu Du, dung mạo hiển nhiên cũng không kém cạnh. Chỉ tiếc rằng khí chất hai người lại cách biệt một trời một vực: An Ngọc rạng rỡ kiêu sa, còn Khánh Vân thì ngang ngược, tự phụ. Thế mà giờ đây, nàng ấy chỉ còn lại dáng vẻ câm lặng, lờ đờ như kẻ mỏi mòn cả thể xác lẫn tinh thần.
Ánh mắt Cao Nghiêm khẽ đảo qua người Đậu Du một vòng, rồi khom lưng, cung kính nói: “Nô tài đã phụng mệnh truyền xong khẩu dụ của Thái hậu, nay xin phép hồi cung.”
Thấy ông ấy sắp rời đi, Đậu Du mới chậm rãi phản ứng. Nàng đưa tay lên cổ tay, tháo chiếc vòng ngọc đã đeo suốt bao năm. Tuy chưa từng trải qua tình huống như thế này, cũng không rõ nên nói gì cho đúng, nàng đứng ngẩn ra một lúc rồi bước đến trước mặt Cao Nghiêm, cứng nhắc đặt chiếc vòng vào tay ông, giọng khô khan: “Hôm nay... xin đa tạ công công.”
Cao Nghiêm cười khổ, vẫn giữ thần sắc tự nhiên, thuận tay thu chiếc vòng ngọc vào tay áo, rồi cúi người càng thấp hơn, đáp: “Tạ điện hạ ban thưởng. Nô tài cũng đã sớm cho người truyền tin đến đại trạch Đậu gia. Chắc chẳng bao lâu nữa bên ấy sẽ phái người tới đón điện hạ.”
Dứt lời, ông từ từ lùi mấy bước mới quay người rời đi. Cánh tay vừa giơ lên, đám thị vệ theo hầu lập tức nối bước, đồng loạt rời khỏi viện.
Thư ma ma thấy người trong cung đã lui hết, đứng lặng một lúc, ánh mắt dừng lại trên gương mặt vô cảm của Đậu Du. Trong lòng bỗng dâng lên nỗi xót xa khôn tả. Bà kéo tay áo, nhẹ giọng nói: “Lão nô đi thu dọn hành lý cho ngài.”
Đậu Du hé môi cười khổ, nhẹ nhàng kéo lấy cánh tay ma ma, hạ giọng: “Ta vốn chẳng mang theo gì, nơi này có gì đáng để thu dọn đâu? Xiêm y cũ đều là vải tốt, nếu ma ma không chê, có thể sửa lại cho vừa người, cũng có thể đem đi đổi lấy chút bạc tiêu dùng.”
Nàng đã hạ quyết tâm phải để lại cho Thư ma ma một vật thật sự có giá trị, nên dứt khoát nói trọn ý. Rồi từ búi tóc, nàng gỡ xuống chiếc trâm ngọc. Trâm tuy đơn sơ, nhưng đầu trâm gắn một viên minh châu tròn trịa, sáng bóng. Nàng khéo léo gỡ viên châu ra, nhét vào tay Thư ma ma, khẽ nói: “Trên người ta chỉ còn vật này là còn chút giá trị, để lại cho ma ma phòng khi cần đến.”
Thư ma ma vội vàng xua tay từ chối, nhưng Đậu Du nhất quyết không rút về: “Ma ma không muốn đi cùng ta, thì ít nhất cũng nhận thứ này. Nếu cả chút đồ này cũng không chịu nhận, sau này ta sẽ mãi nhớ ngươi, mãi lo lắng cho ngươi.”
Lúc ấy, Thư ma ma mới nhận lấy.
Đậu Du quả thật không mang theo bao nhiêu đồ đạc khi mới đến. Lúc bị cấm túc, thời gian gấp gáp, có gì trên người thì mang theo cái ấy. Bởi vậy, khi thu dọn hành lý, nàng chỉ ngồi trên sập, nhìn Thư ma ma gom lại một xấp dày giấy Tuyên Thành cùng một chồng thoại bản. Nàng không nhịn được bật cười: “Xem như cũng có chút hành lý. Không đến mức tay không mà đến, tay không mà đi.”
Trên cùng xấp giấy Tuyên Thành ấy có một phong thư được đặt ngay ngắn, dù đã mở niêm phong nhưng vẫn được bảo quản cẩn thận. Nàng xuất thần nhìn chằm chằm vào nó một lúc, rồi chậm rãi cầm lên.
Bì thư không ghi tên người gửi. Nội dung bên trong nàng đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, từng câu từng chữ đều khắc sâu trong tâm trí. Những lúc rảnh rỗi luyện chữ, nàng cũng thường dựa theo nét bút trong thư mà chép lại. Giờ đây, nàng lại rút tờ giấy ra, từ tốn mở ra như thể đang đọc lần đầu, dõi theo từng dòng từng chữ.
Cho đến câu cuối cùng, ánh mắt nàng dừng lại thật lâu không rời.
“Chuyện hôn ước, đợi ta trở về sẽ bàn lại.”Lòng bàn tay nàng nhẹ nhàng lướt qua hai chữ “trở về”, khẽ thở dài: “Cuối cùng huynh cũng chẳng thể quay về nữa.”