“Sao không nói sớm!” Khang Hòa quăng xiên tre, lội lên bờ, bàn chân ngâm nước đến nhăn nhúm.
Phạm Cảnh thấy hắn hậm hực, đứng dậy đi trước: “Vận may tốt thì không chừng có cá mà ăn.”
Khang Hòa thấy hắn như trêu chọc mình, bèn lớn tiếng với theo: “Ngươi cứ đợi đấy, cá trong suối này, sớm muộn gì ta cũng bắt cho ngươi ăn!”
Phạm Cảnh không đáp, cũng coi như lưu chút mặt mũi cho hắn.
Về đến lán gỗ, trời đã xẩm tối.
Hôm nay coi như hai người tay không trở về.
Phạm Cảnh vừa về đã ra sân sau, lấy đá mài ra mài dao.
Khang Hòa thấy y một tay không tiện, định giúp, nhưng Phạm Cảnh lại không cho.
Dụng cụ bằng sắt mấy năm nay ngày càng đắt đỏ, nhà nghèo không kham nổi, nhiều nhà còn đem nồi niêu đi bán lấy tiền.
Có thời gian khốn khó, ngay cả cái chảo sắt của hồi môn cha Phạm Cảnh cũng đem bán.
Giờ dù giá sắt vẫn cao, nhưng nhà nào có được dao búa tốt đều quý như mạng.
Thấy y nâng niu dao búa như vậy, Khang Hòa cũng chỉ đành dặn dò: “Chậm chút, đừng làm đau tay.”
Rồi hắn vào bếp lo cơm tối.
Trời núi lạnh, đồ ăn để được lâu hơn, nhưng để lâu quá cũng dễ ôi thiu. Xương heo hôm qua vẫn còn nhiều, định chia ăn dần cho hết, chứ tiếc của mà để hỏng thì uổng.
Hắn rửa sạch hai miếng xương quạt heo, cho gừng, hạt tiêu, hầm lên.
Nếu có thêm quế, lá thơm, đinh hương, đại hồi, thảo quả thì nồi canh xương còn thơm hơn nhiều, nhưng có những gia vị ấy để ướp thịt kho rau còn hơn, hương thơm ăn mãi không chán. Ước lượng bột mì cho mỗi người ba bốn lạng, hắn nhào xong, đậy vải trắng sạch, để qua một bên ủ.
Hắn thò đầu ra, gọi với ra sân: “Tối nay ta làm mì.”
Phạm Cảnh thoáng sửng sốt, thấy hắn cán bột làm bánh sợi, liền gật đầu.
Y vốn không kén ăn, trước đây một mình trong núi toàn ăn bánh khô, thỉnh thoảng nấu được bát cháo đã là hiếm hoi.
Giờ nghe nói có mì ăn, tất nhiên không ý kiến.
“Ngươi muốn ăn mì sợi to hay nhỏ?”
Phạm Cảnh giọng nhàn nhạt: “Đều được.”
“Cái gì mà ‘đều được’, ở chỗ ta đây không có ‘đều được’. Mau nói cho rõ, là muốn ăn mì sợi to hay mì sợi nhỏ.” Phạm Cảnh ngừng tay, ngẩng đầu liếc nhìn cái đầu thò ra từ cửa bếp của Khang Hòa.
Thấy hắn cứ lườm lườm trông như không moi ra đáp án thì không chịu thôi, y đành nhả ra hai chữ: “Nhỏ thôi.”
“Thế mới phải.”
Bên ngoài mặt trời đã lặn hẳn, sương đất bốc lên, gió thổi qua đã lạnh ngắt. Trong lán gỗ, lửa trong bếp cháy rực, nồi canh xương sôi ùng ục, hương thịt nồng đượm quện theo làn hơi trắng bốc đầy gian nhà.
Hơi ấm và hương cơm chiều, bất kể ở nơi nào, cũng khiến lòng người an ổn lạ thường.
Phạm Cảnh mài dao xong bước vào, ngồi xuống cái ghế nhỏ trước bếp trông lửa, trông thấy Khang Hòa không hề vội vã cán mì, lại đi trồng hai bụi lan mang về dưới sân, lát lại lượn ra bìa rừng chặt vài ống tre.
Đi tới đi lui, bận rộn không ngừng.
Đã thế làm gì cũng phải ghé tai y nói vài câu: “Sao ngươi thích ăn mì nhỏ vậy? Có muốn bỏ thêm rau xanh không?”
“Ta chăm hai bụi lan này tốt, lúc xuống núi đảm bảo vẫn nở hoa.”
“Tre rừng mọc đẹp thật, lớp vỏ dày, dẻo dai.”
Y nghe đến ong cả đầu, chợt có cảm giác bản thân không phải đang ở nơi núi rừng heo hút, mà như đang ngồi trong gian bếp nhà mình vậy. Thật không hiểu sao có người lại nhiều lời, lắm chuyện đến thế.
Đến khi trời tối mịt, Khang Hòa mới chịu thôi, rửa tay, thả mì vào nồi, sắp chín thì thả vào một nắm rau dại hái lúc đi chặt tre.
Sợi mì mới cán, rưới một bát canh xương óng ả, rắc thêm ít hành hoa xắt nhỏ.
Tô sành nóng hổi bưng đến trước mặt Phạm Cảnh, hương thơm bốc lên khiến người ta nuốt nước bọt. Nhìn bát mì trước mắt, Phạm Cảnh thấy không thua gì mì quán trong huyện.
Húp miếng nước lèo, y cảm thấy Khang Hòa đúng là nói dối, rõ ràng là “biết làm bếp” chứ không phải “biết chút ít”.
Nhà họ Phạm cũng thường ăn mì, nhưng lấy nước hầm xương nấu mì thì chưa từng có. Ngày thường chỉ là mì rau thanh đạm cũng đã coi là ngon miệng lắm rồi.
Hai người ngồi trong gian nhà gỗ ấm áp, mặc gió hú rít bên ngoài, ung dung ăn cạn một bát mì lớn, ngay cả nước cũng uống sạch.
Ăn xong, tối nay không cần thay thuốc, Khang Hòa xách một thùng nước nóng, bảo Phạm Cảnh ngâm chân.
Chân ngâm đến đỏ ửng, y lau xong thì chui ngay lên giường. Trước đây y còn hay ra ngoài dạo quanh một vòng xem có gặp được dã thú đêm không, nhưng giờ cánh tay không nhấc nổi cung, cũng không muốn mạo hiểm.
Không rõ là vì bị thương khiến người dễ buồn ngủ hơn, hay là do đâu, chỉ biết y vừa nằm chưa bao lâu đã thở đều.
Trong mơ, y chỉ cảm thấy một mảnh ấm áp, ngoài rèm có một ánh lửa ấm áp vàng vọt sáng mãi.
Khang Hòa chưa vội ngủ, lấy tre chẻ thành nan, làm vài việc lặt vặt. Củi trong bếp được thêm tới sáu bảy lần mới chịu tắt.
Sáng hôm sau, ánh sáng luồn qua khe cửa, Phạm Cảnh tỉnh dậy thì trời đã không còn sớm.
Y xoa thái dương, tự biết mình đã ngủ quên. Trong nhà yên tĩnh, tiếng chim kêu sâu gáy bên ngoài càng thêm rõ ràng.
Y liếc nhìn giường nhỏ của Khang Hòa, chăn đệm gấp gọn ghẽ, người không biết đã đi đâu.
Y bước ra, mở cửa lán, hương lan thoang thoảng theo gió. Nhưng nhìn quanh cũng không thấy bóng dáng Khang Hòa.
Chân mày Phạm Cảnh hơi động, trong đầu thoáng qua ý nghĩ: “Chạy rồi sao?”
Song chỉ giây lát sau y liền gạt bỏ, bởi trên bếp còn để phần ăn sáng mà Khang Hòa chuẩn bị sẵn.
Ba củ khoai môn to cỡ nắm tay, nấu chín bở tơi, còn hơi ấm.
Y ngồi xuống bên bếp, bóc khoai ăn, trông thấy mấy đốt tre cháy dở trong bếp, chân mày càng chau chặt.
Y ở trong núi vốn ngủ rất tỉnh, chỉ cần một chút động tĩnh là tỉnh dậy. Vậy mà đêm qua ngủ say như ở nhà, không hề hay biết Khang Hòa dậy sớm nhóm lửa nấu khoai.