Chương 27

Phạm Cảnh từ xa liếc mắt đã thấy phần mặt hố bị dẫm sụt xuống, biết chắc có động tĩnh.

Song đợi đến khi Khang Hòa đuổi kịp bước tới nhìn xuống, lại không thấy trong hố đầy chông nhọn có gì ngoài mấy sợi lông vũ dài dài sót lại.

“Chạy thoát rồi sao?”

Phạm Cảnh cúi mắt, đôi mắt sắc lạnh như chim ưng đảo quanh bốn phía, chậm rãi đáp: “Hoặc là chạy rồi, hoặc là bị kẻ khác nhặt mất.”

Chuyện ấy, hiển nhiên ở trong núi cũng thường gặp, nên y nói ra giọng cũng bình thản.

Khang Hòa lấy làm lạ: “Trong núi còn có thợ săn khác?”

Phạm Cảnh liếc hắn như nhìn kẻ ngốc: “Dãy núi này kéo dài trăm dặm, sao chỉ mỗi ta săn bắn?”

Nói xong, y nửa ngồi nửa quỳ, lại cẩn thận phục hồi cái bẫy.

Khang Hòa thấy trên thân cây gần đó buộc một sợi vải, liền hỏi: “Đây là đánh dấu để nhớ vị trí bẫy à?”

“Thường ngày đi lại quen, bẫy mình đặt sao lại không nhớ? Thứ này là để người khác không trượt chân rơi xuống bẫy.” Phạm Cảnh đáp xong, lại nhặt lá rụng rải lên.

Khang Hòa nghe vậy, khó tránh nghĩ: “Thế không phải cũng để cho thợ săn khác biết ở đây có bẫy à? Lại để họ nhặt lời mất công mình?”

Phạm Cảnh đứng dậy, thản nhiên: “Dù vậy cũng không thể hại mạng người. Đó là quy củ lão thợ săn dạy ta khi mới học nghề.”

Khang Hòa trong lòng không khỏi nảy lên mấy phần kính phục, lại hỏi: “Vậy sư phụ ngươi cũng săn ở khu rừng này sao?”

Phạm Cảnh nhàn nhạt đáp: “Chết nhiều năm rồi.”

Khang Hòa bất ngờ: “Sao lại thế?”

“Ngày đông nọ vào núi, rồi không thấy về nữa. Hai năm sau mới có người thấy xương cốt dưới chân núi.”

Núi rừng hiểm trở, sự cố vốn không lạ, song giọng hắn kể đến đây vẫn có phần trầm lại.

Khang Hòa cũng không ngờ lại ra thế, trong chốc lát không biết nói gì.

Hai người rời khỏi đó, tiếp tục dọc núi mà đi.

Dọc đường lại ghé xem bốn cái bẫy, trong đó hai cái thấy có dấu vết thú qua, nhưng không còn hàng, còn hai cái thì vẫn y nguyên.

Mất nửa buổi sáng trôi qua, rốt cuộc không thu được gì.

Dọc đường, lại trông thấy hai con chim xám lông xù đậu trên cành, Phạm Cảnh bảo đó là “đại ngốc điểu”, thịt ngon, mang về huyện có thể bán được năm mươi đồng một con.

Loài chim này không thích xuống đất, hầu như không sa bẫy, bình thường toàn do hắn bắn cung mà được.

Hiếm khi bắt gặp, song bây giờ không tiện động tay, y chỉ tiếc rẻ thầm thôi.

Đến chừng trưa, hai người leo lên tới một mỏm đá phẳng bên vách núi nghỉ chân, hong nắng ăn lót dạ mấy chiếc bánh thô.

Vách núi hướng dương, cỏ cây um tùm, phóng mắt nhìn xa xa thấy cả một con suối uốn lượn.

Khang Hòa nhìn dòng suối lấp loáng ấy, hỏi: “Đó là con suối ngươi nói có ổ vịt trời sao? Suối ấy có cá không?”

Phạm Cảnh cắn miếng bánh khô, gật đầu.

Khang Hòa tự tin nói: “Vậy lát nữa ta xuống đó, bắt vài con cá, tối nấu canh cho ngươi ăn.”

Ánh mắt Phạm Cảnh chợt xẹt qua ý cười, nhưng giọng vẫn thản nhiên: “Ngươi muốn xem thì lát về đi lối ấy.”

Khang Hòa ừ một tiếng.

Gió vách núi thổi lên một luồng dài, nắng trưa hong ấm áp, không còn cái lạnh tê người lúc sáng sớm nữa.

Hắn bất chợt đặt bánh xuống, hít sâu một hơi: “Ngươi có ngửi thấy không, thơm quá.”

Phạm Cảnh nhìn hắn một cái.

Khang Hòa từ trên tảng đá bật dậy: “Là hương lan đấy.”

Nói rồi liền nhảy xuống, cười hì hì: “Lan trên núi thơm lắm, ta đi tìm xem ở đâu.”

Phạm Cảnh nhìn hắn hí hửng hít hít ngửi ngửi dọc vách núi, không bao lâu đã bới được hai bụi lan, cả gốc lẫn đất ôm về.

Cây lan ấy mảnh dẻ thanh nhã, hương hoa lại thanh khiết dịu dàng, chỉ một bông nở cũng đủ toát hương ngào ngạt khiến người say lòng.

“Hàng họ bán ở tiệm chim hoa cũng thu đấy.”

Khang Hòa hỏi: “Bán được bao nhiêu tiền?”

“Chừng mười mấy đồng.”

Khang Hòa phủi đất dính trên tay áo, cười: “Thế thì hôm nay cũng không uổng công ra núi một chuyến.”

Nói rồi, hắn hái hai tấm lá khoai dại to bản, cẩn thận gói hai bụi lan lại.

Buổi chiều, hai người men theo con suối trở về.

Nước suối có chỗ tuôn ra từ khe đá, có chỗ từ trên cao đổ xuống, trong vắt lạnh buốt.

Chỗ sâu chậm, có thể thấy vài con cá trắm xanh lặng lẽ dừng lại trong làn nước, con nhỏ cỡ hai tấc, con lớn bằng bàn tay người trưởng thành.

Hai người vừa lại gần, mấy con diệc chân dài đang rỉa mồi bên bờ vội vã đập cánh bay lên cao.

Phạm Cảnh nhìn theo mấy con diệc to lớn sải cánh bay xa, hơi lấy làm tiếc. Quả là trớ trêu, những khi cầm được cung thì chạy cả ngày trong núi cũng không dễ gì đυ.ng trúng loài chim ngốc ấy hay bầy diệc, vậy mà giờ cung không kéo nổi, chúng lại từng đàn lượn sát bên.

Nếu mấy con diệc và chim ngốc kia đều bắt được, thì chuyến núi này cũng coi như không uổng.

“Đoàng!” Một tiếng vang giòn kéo y về thực tại, chỉ thấy Khang Hòa đã không nhịn nổi, xắn ống quần, nhảy ngay xuống suối.

Hắn vung cây xiên đá trong tay, lao thẳng xuống đâm vào bầy cá đang nấp trong nước. Từng giọt nước lạnh như đá bắn đầy mặt.

Khang Hòa tự tin rằng lần này hắn nắm chắc, ai dè kéo xiên lên lại trống không.

Hắn ngẩn người: “Không phải chứ?”

Vốn ở làng hắn vẫn hay bắt cá, tính cả độ khúc xạ ánh sáng mặt trời vào nước, đâu có trượt?

Thế là hắn càng tập trung, đâm liền mấy lượt, vẫn chỉ toàn trượt.

Người liền càu nhàu: “Chắc tại cây xiên này không thuận tay.”

Phạm Cảnh không đáp, chỉ lẳng lặng đi ven suối, chặt lấy một đoạn tre, vót nhọn đầu rồi đưa cho hắn.

Khang Hòa đổi sang xiên tre, lại tiếp tục thử mấy lần.

Xiên tre cũng không khá hơn, mũi nhọn dần cùn, nước suối bị khuấy đυ.c ngầu, đừng nói bắt được cá, ngay cả bầy cá vốn nấp trong suối cũng không thấy đâu nữa.

Hắn toát mồ hôi ướt đẫm, khát đến khô họng, lầm bầm.

Lúc này, Phạm Cảnh ngồi một bên nhìn hắn giày vò, cuối cùng mới chậm rãi mở miệng: “Ở đây quanh năm có diệc, có vịt trời, đám cá trong này cũng bị rèn thành tinh cả rồi, sao dễ bắt.”