Hễ nghe đâu đó có người nói quan thoại, hắn liền ghé tai nghe, âm thầm học theo từng chữ từng câu.
Không chỉ thế, hắn còn chủ động bắt chuyện thử với người ta để dò xem trình độ của mình thế nào.
Chậm trễ mất nửa buổi, nhân lúc trò chuyện học hỏi, hắn hỏi thăm ra được một hiệu thuốc, lúc này mới ghé vào mua thuốc.
Cẩn thận nói rõ triệu chứng với lão đại phu, lấy ba thang thuốc, cả uống trong lẫn đắp ngoài.
Ngoài ra, hắn còn mua thêm ít thuốc thường dùng, phần lớn là thuốc ngoài da, còn lại là thuốc trị đau đầu, sốt rét, tiêu chảy, đầy bụng.
Lão đại phu thấy hắn chọn thuốc đâu ra đấy, liền hỏi: “Tiểu huynh đệ là thầy lang quê sao?”
Khang Hòa bắt chước giọng điệu mới học: “Đâu dám, chỉ biết chút da lông thôi.”
“Biết chút ít là tốt, tự chăm được bản thân.”
Khang Hòa mỉm cười, thấy trong hiệu còn treo mấy bó dược liệu chưa nhập kho, lão đại phu lại hiền lành, bèn thuận miệng hỏi: “Không rõ lão tiên sinh ở đây có thu dược liệu không?”
“Có, nhưng hiệu nhỏ, mua không được giá cao.”
Khang Hòa nói: “Lão tiên sinh y tâm nhân hậu, khám bệnh lấy tiền ít, thuốc cũng rẻ, đem dược liệu bán cho hiệu của người, coi như tích đức hành thiện.”
Lão đại phu nghe hắn nịnh nọt, cười ha hả, hạ giọng nói: “Tiểu tử này, miệng ngọt thật. Sau này có dược liệu trong tay, không chê hiệu nhỏ của ta thì cứ đem tới.”
Khang Hòa chưa chắc kiếm được dược liệu, nhưng ai lại chê nhiều thêm một con đường, liền vội đáp: “Dạ, tất nhiên rồi.”
Tiền thuốc hết sáu mươi lăm đồng, chỗ bạc ít ỏi hắn mang theo càng mỏng đi.
Lúc sáng Phạm Cảnh vốn định đưa thêm tiền, nhưng hắn kiên quyết từ chối.
Dù sao cũng là vì cứu hắn mà Phạm Cảnh bị thương, lại còn lấy tiền của người ta để chữa trị cho y, trên đời làm gì có đạo lý đó?
Ra khỏi hiệu thuốc, hắn lại ghé qua hàng thịt.
Lúc chiều, đám hàng thịt đã uể oải cả, ruồi nhặng bay vo ve đậu đầy trên từng miếng thịt trắng phau, mấy gã đồ tể cũng không buồn đuổi.
Khang Hòa len lỏi tới một góc, tìm thấy một sạp tên “Thịt heo ngon của Ngô đại tỷ”, tuy không ở mặt đường lớn, nhưng lại đắt khách, quầy thịt đã bán vơi đi trông thấy.
Cũng dễ hiểu, chỗ của Ngô đại tỷ quét dọn sạch sẽ, không như mấy sạp kia, khách mua lòng heo thì đổ bẩn thỉu ngay ra rãnh bên cạnh, hoặc hứng vào thùng xong cũng vứt ngay dưới sạp, đến trưa nắng lên, mùi nồng nặc kinh khủng.
Bảo sao mà khu hàng thịt lúc nào cũng đầy ruồi nhặng.
Thấy Khang Hòa bước tới, Ngô đại tỷ vội lật đám cành tùng che thịt, mời hắn chọn.
Hắn hỏi giá, thịt ba chỉ ngon nhất mười hai đồng một miếng, nạc riêng, mỡ riêng giá cũng không rẻ.
Hắn đành chọn mấy khúc xương ống và xương quạt lọc ra, cả rổ to vài cân cũng chỉ hai mươi đồng. Sau đó còn ghé hàng gạo mua ba cân bột mì.
Mua đủ đồ, hắn ra quán ven đường ăn tạm hai cái bánh nướng bột thô, uống thêm chén trà lạt chủ quán mời, lót dạ xong mới đứng lên.
Tiện thể, hắn còn bỏ ra một đồng nhờ gã chạy việc đang chờ ở góc tường kể thêm cho mấy chuyện trong vùng.
Ăn xong, hắn mới thong thả quay về.
Lúc lên núi, mặt trời đã xế về tây. Nắng chiều chiếu xuống, trong núi không còn ẩm ướt như sáng nữa, đã khô ráo dễ chịu hơn nhiều.
Khang Hòa vội vàng bước nhanh về tới căn lều gỗ, từ xa đã thấy cửa ngoài khóa chặt.
Không ngoài dự liệu người kia quả nhiên không thể nào chịu ngồi yên, không biết lại chạy đi đâu rồi.
May mà hắn có chìa khóa.
Lần này, Khang Hòa không cuống lên chạy đi tìm người, mà trước hết lo vo gạo, bỏ vào nồi.
Hắn mang xương heo rửa sạch, đập vụn, cùng gạo hầm thành nồi cháo thơm nghi ngút.
Dọc đường về, hắn còn đào được ít rau dại, rau chân vịt, nhặt về để trộn nguội ăn kèm.
Phạm Cảnh về tới, từ ngoài sân gỗ đã ngửi thấy mùi thịt thơm lừng.
Y ra ngoài loanh quanh trên núi, thấy hướng căn lều bốc lên làn khói bếp nhè nhẹ, biết ngay Khang Hòa đã về, mới quay gót đi về.
“Ngươi lại đi đâu nữa? Bảo ngươi nghỉ ngơi, đừng ra ngoài lung tung, lỡ lại động tới tay thì sao.” Thấy người kia cúi đầu lầm lũi bước vào, một tay vẫn còn treo băng, lại nhịn không nổi mà phải ra ngoài, Khang Hòa đành lải nhải mấy câu.
Phạm Cảnh nhủ bụng có ai ngu đến mức ra ngoài là phải bị thương đâu.
“Chỉ đi loanh quanh gần đây thôi.”
Nói rồi, y lấy từ trong túi ra hai quả trứng xanh vỏ.
Trứng nhỏ, chừng cỡ trứng gà nhà nuôi.
Khang Hòa nhận lấy, thấy nhỏ xinh đáng yêu, hỏi: “Trứng vịt trời?”
“Ừm. Phía bắc có con suối, gặp được ổ vịt trời.”
Khang Hòa nghe mà hứng thú: “Ngày mai ta cũng đi xem thử. Trứng vịt này vừa khéo tối nay làm trứng rán với rau dại.”
Phạm Cảnh không ngăn cản hắn muốn làm gì với trứng, trước nay y đi săn cũng từng nhặt trứng chim, trứng vịt mang về luộc ăn, tiện đem theo.
Y thấy Khang Hòa lấy bát, tay trái thành thạo đập trứng, vỏ rạn ra, cả lòng trắng lòng đỏ trượt gọn vào bát, không rơi một mảnh vỏ nào.
Rau dại rửa qua, thái nhỏ, trộn cùng trứng, rồi đánh đều lên.
Phạm Cảnh ghé mở vung nồi trên bếp, cúi mắt nhìn.
Chỉ thấy hơi nóng bốc lên nghi ngút, mùi thịt đậm đà thơm phức, trong nồi cháo đang sôi lục bục.
“Ngươi biết nấu?”
Khang Hòa nghe thế hơi khựng tay, cười đáp: “Biết gì đâu, chỉ là làm được ít món đơn giản thôi.”
Biết nấu bếp tức là tay nghề đầu bếp, hắn nào có bản lĩnh tới mức ấy.
Khang Hòa thấy Phạm Cảnh ít nói mà lại biết khen người, trong bụng tự nhiên có chút vui vui.
Quả thật hắn biết rất nhiều thứ, nhưng thứ gì cũng chỉ dừng ở mức sơ sơ, không đi sâu.
Hồi trước ở làng quê hắn còn làm kênh tự quay, quay đủ kiểu nấu ăn, hái rau, làm mộc, trồng trọt…
Thứ gì cũng học qua, chỉ có điều phần lớn là học sau này để quay video, chứ không phải vốn sẵn biết từ nhỏ.
Phạm Cảnh thấy hắn không khoác lác, cũng không ngạc nhiên gì nghe nói ông già họ Khang vốn là đầu bếp, Khang Hòa chịu học ít món cũng phải thôi.