Một bên, Khang Hòa nghe xong mới vỡ lẽ người ta tới làm gì.
Lương thị thấy tiểu nương tử mặt mày tươi tắn, giọng dạn dĩ, hiển nhiên đã từng làm qua nghề này, trong lòng càng hài lòng hơn.
Bèn hỏi: “Có mang theo tịch khế không?”
Tiểu nương tử vui mừng lấy từ người ra tờ tịch khế, đưa cho Lương thị: “Ta là hộ tịch đàng hoàng của huyện này, chủ tiệm cứ cầm tịch khế ta mà hỏi thăm.”
Khang Hòa nghe vậy, lông mày khẽ chau.
Hắn không nhịn được tiến lên nhìn, Lương nương tử không hiểu, nhưng vẫn ôn hòa nói: “Ở huyện này tìm việc phải coi tịch khế cả.”
Sợ hắn nghe không hiểu quan thoại, bà lại kiên nhẫn nói lại bằng thổ âm.
Khang Hòa mày càng nhíu chặt, hắn nhớ trong bọc hành lý và rương của mình căn bản không có thứ giấy tờ gì giống thế.
Hắn liền chỉ vào tịch khế của tiểu nương tử, rồi lại chỉ vào mình.
Phạm Cảnh mày hơi động, sâu xa nhìn hắn một cái, đáp: “Ở nhà.”
Khang Hòa trên đường mới học được câu này, nhưng lại không chắc là nhà họ Khang hay nhà họ Phạm, bèn hỏi: “Phạm Cảnh, nhà?”
Phạm Cảnh gật đầu.
Trong lòng Khang Hòa thoáng cảm giác phức tạp, nhưng nghĩ kỹ lại, cũng hợp tình hợp lý Phạm gia đã đưa tiền cho Khang gia, hắn tới cửa, Phạm gia cũng không sợ hắn bỏ trốn, vốn là thứ quan trọng đã cầm chắc trong tay.
Khang Hòa lại bỗng ngộ ra một chuyện hệ trọng, nhưng lúc này thứ hắn quan tâm hơn lại là chuyện khác.
Nhân lúc rảnh, hắn khẽ kéo tay áo Phạm Cảnh, ôm bụng, vẻ mặt khổ sở.
Phạm Cảnh thấy thế, liền dắt hắn ra ngoài, tìm đến nhà xí đầu ngõ.
Khang Hòa liếc nhìn nhà xí công cộng một cái, lại liếc nhìn tiệm vải, rồi chỉ tay về con đường mình vừa đến, ý bảo Phạm Cảnh hắn nhớ đường rồi, không cần đợi hắn.
Phạm Cảnh gật đầu, theo lời quay lại tiệm.
Khang Hòa núp trong nhà xí, thò đầu ra thấy Phạm Cảnh đã vào tiệm mới len lén chạy ra phố.
Hắn tìm một gã chuyên bán tin, dúi cho người ta hai đồng tiền.
Hắn thử dùng quan thoại hỏi chuyện, kẻ bán tin nghe hiểu ngay, cũng không lấy làm lạ sao hắn nói được quan thoại, bèn thong dong trả lời.
Không mấy chốc, Khang Hòa đã hiểu rõ ràng.
Quả thật ở nơi này thông dụng hai thứ tiếng, một là quan thoại thống nhất thiên hạ, hai là thứ phương ngữ đất này.
Dân quê bản xứ đều nói phương ngữ, chỉ những người tha hương mới phải dùng quan thoại để dễ giao tiếp. Còn bọn có thân phận trên huyện thì lại chê phương ngữ quê mùa, muốn tỏ ra khác biệt với dân thường nên cũng bày đặt dùng quan thoại để khoe mẽ.
Kẻ đọc sách không ai không biết quan thoại, mấy kẻ không biết chữ nhưng sống ở huyện, từ nhỏ cũng đã nghe quen, chỉ là khẩu âm nặng mà thôi. Lâu dần, để tiện buôn bán, thương nhân trên huyện gần như đều nói quan thoại, còn nếu ngươi nói phương ngữ, người ta vì làm ăn cũng vui lòng đổi sang.
Tóm lại ở huyện thành, ngươi nói gì, họ đáp lại bằng thứ ấy.
Chỉ ở quê mùa thôn dã mới ít tiếp xúc bên ngoài, dân cày mới không biết quan thoại hoặc thậm chí nghe cũng không hiểu.
Khang Hòa vốn quanh quẩn nơi thôn xóm, chưa từng gặp ai nói quan thoại, tự nhiên cũng không hay biết.
Hắn cẩn thận, thấy không hiểu phương ngữ thì dứt khoát không hé môi nói quan thoại.
Nếu sớm nói, có khi trong làng vẫn có người nghe hiểu, nhưng nghe hiểu lại sinh chuyện.
Một kẻ vốn là thằng ngốc, bỗng một ngày khôn ngoan, không nói được phương ngữ lại bập bẹ quan thoại, dân làng mê tín nhất định sẽ sinh nghi, không đuổi tà đuổi quỷ cũng sẽ xôn xao đồn đoán.
Nhưng dẫu không dám bại lộ khi ở quê, giờ đây lại thành một niềm vui bất ngờ. Song vui lại xen chút lo hắn biết quan thoại, nhưng tịch khế lại ở Phạm gia, chưa biết làm sao lấy về tay mình.
Gã bán tin bảo, nếu không có thứ ấy, thì đừng hòng tìm việc đàng hoàng, thuê nhà, thuê đất, không khác gì dân đen không hộ tịch, không ai dám dùng.
Bên tiệm Kiều Đầu Tuệ nương tử, Lương thị hỏi xong việc, tiễn tiểu nương tử đi, thấy Khang Hòa mãi chưa về, thì quay sang Phạm Cảnh, muốn nói lại thôi: “Tiểu lang kia… hắn nói năng…”
Phạm Cảnh thản nhiên: “Hắn không giỏi ăn nói.”
Lương thị nghe vậy cũng khó nói thêm gì, dù sao tình hình nhà Phạm gia bà biết rõ, con rể ở rể vốn không dễ kiếm.
Thôn quê sao sánh được huyện thành. Ngày trước mỗi đợt tuyển binh, nhà ai có bạc thì lo bạc miễn dịch, nhi tử không bị kéo ra chiến trường.
Dân quê thì bạc đâu ra, đến mùa là phải chịu trưng binh, mười dặm tám làng nam nhân vơi cả. Mấy năm nay nam nữ tha hương ra huyện tìm việc đầy rẫy.
Bà bèn hạ giọng an ủi Phạm Cảnh: “Đời nào có được kẻ mười phần vẹn mười đâu. Chỉ cần nhân phẩm tốt, chịu khó sống yên ổn là được.”
Phạm Cảnh gật đầu: “Ta hiểu.”
Thấy y trấn định, Lương thị không nói thêm, chuyển sang xem đồ: “Vải dệt tốt đấy, là thứ trung đẳng đấy. Thật sự muốn đổi à?”
Khang Hòa nghe không hiểu phương ngữ, liền nhìn Phạm Cảnh.
Phạm Cảnh đáp: “Đổi.”
Lương thị nói: “Nếu đổi tiền thì thím không ăn lời, chỗ này được ba trăm tiền.”
Nói xong, Phạm Cảnh giơ ba ngón tay cho Khang Hòa xem.
Khang Hòa lắc đầu, chỉ vào cuộn vải trong tiệm, tỏ ý muốn đổi lấy vải vóc.
Lương thị lấy ra mấy cuộn vải, kiên nhẫn dùng tay ra hiệu phân biệt giá cả. Cuối cùng Khang Hòa chọn một xấp vải thô xanh đậm và một xấp vải thô màu hoa mơ.
Lương thị bọc lại hai xấp vải cẩn thận, rồi lấy thêm một xấp vải bông dày đã nhồi sẵn bông, gói cùng, nói với Phạm Cảnh: “Không biết ngày vui của các ngươi thím có rảnh đi dự hay không, xấp bông này coi như thím gửi làm quà mừng.”
Thực ra bà rất muốn đến uống rượu mừng, chỉ e khó sắp xếp nổi.
Chồng bà ra phủ lấy hàng chưa biết bao giờ về, bà vừa trông cửa hàng, vừa trông đứa con năm tuổi, trong bụng lại còn mang bầu, người thì khó đến, nhưng quà thì không thể không gửi.
Phạm Cảnh vội xua: “Quá quý giá, không được.”