Chương 7: Giương Đông kích Tây

Liên Kiều quá quen với tính cách của tiểu thư nhà mình, nói được một câu đã là hiếm lắm rồi, muốn biết thêm thì chỉ có tự mình đoán.

Nghĩ vậy, nàng ấy đặt chiếc bản đồ trên bàn, ngón tay lướt dọc theo các địa danh và đường núi: “Hiểu rồi! Chúng ta đi đường gần nhất, băng qua núi. Còn bọn họ thì tránh đoạn Lê Sơn trước kinh thành, đi vòng qua Vận thành rồi mới quay về.”

“Ừ.” Thích Bạch Thương gật nhẹ, ngón tay khẽ lật thêm một trang sách.

Liên Kiều lại nói: “Với danh tiếng như hiện tại của Tạ Thanh Yến, chỉ cần đến Vận thành thôi cũng đủ khiến dân chúng kéo ra nghênh đón đầy đường, hoa trái phủ lối, không khéo sẽ phải trì hoãn ít nhất một ngày mới có thể vào kinh. Theo ta thấy, chẳng thà y cứ đi đường núi như chúng ta cho nhanh.”

Thích Bạch Thương không đáp, cũng chẳng phản bác.

Bên ngoài rèm xe, Tử Tô lạnh nhạt hừ một tiếng: “Ngươi không có đầu óc à?”

“Ta không có đầu có chỗ nào…” Liên Kiều đang định nổi đóa thì bỗng khựng lại: “À đúng ha, Tạ hầu gia làm gì ngồi trong nghi giá do thiên tử ban cho. Thế thì bày vẻ rình rang như vậy làm gì chứ?”

“…”

Ngoài rèm im lặng.

Liên Kiều nghĩ mãi không thông, dứt khoát quay đầu lại, ánh mắt long lanh nhìn sang tiểu thư nhà mình đầy mong đợi.

Thích Bạch Thương vẫn cúi đầu nhìn y thư trong tay, không nhấc mắt lên, cất giọng nhàn nhạt: “Ta với hắn không quen không biết, sao ta đoán được hắn nghĩ gì.”

Liên Kiều không tin, ghé sát lại: “Ây da tiểu thư, nhất định người đã đoán được gì rồi, nói cho nô tỳ nghe đi mà.”

“… Nếu là ta.”

Thích Bạch Thương bị nàng lay đến mức chẳng đọc nổi chữ, cuối cùng đành ngước mắt lên, đôi môi đỏ hé mở:

“Chắc là… minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương.”

(*) Kế sách nằm trong Binh Pháp Tôn Tử, mang ý nghĩa tương tự giương Đông kích Tây.

...

Sông Ly Sơn, cách đó ba mươi dặm.

Nước ngọc vờn quanh núi, gió rì rào lướt qua bóng rừng, lẽ ra ở đây là chốn phong cảnh hữu tình, chỉ tiếc đàn chim ven suối đã bị sát khí làm kinh động rồi bay tán loạn.

Một đội kỵ binh mặc áo giáp mỏng, trên lưng đeo trường đao, xếp thành hàng chỉnh tề bên bờ sông cho ngựa uống nước mà không gây ra một tiếng động nào.

Đội quân ấy có khoảng một trăm người, vậy mà khi dừng chân vẫn yên lặng như tờ, đủ thấy kỷ luật nghiêm minh, nghe theo quân lệnh tuyệt đối.

Ánh chiều đỏ rực phủ lên lớp giáp mỏng như vảy bạc, khiến lớp giáp đỏ rực như lửa đốt.

Người dẫn đầu quay lưng lại với dòng sông, đứng dưới một gốc hoè già, vóc dáng cao lớn thẳng tắp tựa ngọc.

Bên cổ áo y khảm hình ác thú há miệng nuốt vai, toả ra khí thế uy nghi. Từ dưới giáp vai là một tấm trường phi thêu văn hạc buông xuống, che đi phần lớn bóng lưng, vạt áo tung bay theo gió.

Như đội kỵ binh phía sau, người ấy cũng đội mặt nạ huyền thiết, giấu kín dung nhan.

Mặt nạ được đúc hình ác quỷ khiến người ta nhìn phải rùng mình. Nhưng y chỉ im lặng cúi đầu, chậm rãi lau đao trong tay, động tác thong thả đều đều như đang theo tiết tấu của một khúc ca cổ nào đó.

Dưới những ngón tay dài thon như ngọc bích ấy là lưỡi đao mỏng sắc bén, ánh hoàng hôn chiếu lên lưỡi đao không những không khiến nó bớt lạnh lẽo, trái lại còn nhuộm cho nó một màu đỏ như máu, khiến lưỡi đao càng thêm rợn người.

Mãi cho đến khi có một kỵ binh phóng ngựa từ rừng rậm bên kia sông lao đến, chỉ trong chớp mắt đã đến bên bờ.

Người kia tung mình xuống ngựa, quỳ một gối hành lễ.

“Bẩm chủ thượng, nửa canh giờ trước, người nọ đã trốn vào rừng phía nam Ly Sơn. Không đầy một tuần trà sau, kẻ truy sát đã theo sát phía sau.”

Ngón tay đang lau đao khựng lại.

Chưa kịp để người đeo mặt nạ ác quỷ lên tiếng, sau gốc hoè to lớn chợt có một cái đầu thò ra.

“Nửa canh giờ? Hỏng rồi hỏng rồi, e là đến lúc chúng ta lần ra tung tích thì đã quá muộn, sợ là cái xác cũng chẳng còn nguyên vẹn.”