Càng về đêm lại càng lạnh. Mưa vẫn chẳng dừng, gió hú qua khe cửa. Trong gian miếu chen chúc mấy chục người, hơi lạnh lẫn với mùi bùn và mùi người, nặng như khói ẩm. Mọi người không ngủ được sau nỗi kinh hoàng, tiếng rì rầm đứt quãng vang lên xen lẫn tiếng người khóc, tiếng trẻ con nấc. Có người bảo nhóm lửa. Nhưng củi ướt, rơm ướt, áo ướt, hơi người cũng lạnh như nước.
Tôi vẫn ôm Huyền Lãng không động đậy, nhưng ngẫm thấy trong miếu hẳn vẫn còn sót lại chút vật dụng cũ, bèn hỏi người trong góc bên kia của miếu:
“Đại tẩu, ngươi tìm quanh chỗ đó xem có còn sót lại thứ gì không?”
Có người nhanh chóng hiểu ý tôi, đáp lời một tiếng rồi đưa tay lần mò. Rất nhanh, bọn họ mò được trong đống đồ thờ mục nát một pho tượng đất vỡ nửa thân, rỗng bụng, bên trong nhét đầy giấy tiền cháy dở, ngoài ra còn tìm được mảnh vải gai còn khô, nắn lại từng cuộn nhỏ. Có người thì tìm được cục đá đánh lửa cùng bát đèn thờ cũ, bên trong còn sót lại chút dầu mỡ khô.
“Không có thứ giữ được lửa đến sáng đâu…” Có người yếu ớt nói.
“Có.” Tôi đáp, ánh mắt dừng lại trên mấy cái bàn thờ đã cũ nát.
“Không được, như vậy là báng bổ!”
“Vậy đi đâu kiếm củi?”
“Thế ngươi đi mà phá. Trời ơi, ta không làm đâu…”
“Thần linh sẽ hiển linh mà cứu chúng ta lúc này sao?” Ở trong một góc tối khác, bỗng có tiếng người khàn khàn cất lên. Đó là một người đàn ông nhỏ con và gầy gò. Tôi nhận ra người này. Tiếng gào khóc xé lòng vang lên khi phải chứng kiến người vợ thai phụ và cha già bị lũ cuốn trôi ngay đi trước mắt trước đó chính là của người này.
“Tránh ra hết đi.” Người đàn ông xuyên qua đám đông, lầm lũi đi tới trước ban thờ. Trên mặt anh ta, vệt nước mắt còn chưa khô.
Anh ta quăng thẳng đống bát hương đã mẻ ra ngoài sân miếu, choang từng tiếng, gốm sứ vỡ nát bấy. Bàn thờ nhỏ bị đạp đổ. Một vài người khác cũng lẳng lặng đi lên, phụ anh ta tháo dỡ.
Chẳng còn ai dị nghị.
Ánh lửa đầu tiên bùng lên. Yếu ớt lách tách, le lói phản chiếu vào khuôn mặt mấy người quanh đó. Ngọn lửa nhỏ đến mức chỉ đủ sưởi cho hai bàn tay. Nhưng ánh sáng ấy khiến tất cả bỗng im lặng. Ai nấy đều dán mắt nhìn, như thể trong đó là đường sống. Ngoài kia, mưa vẫn đổ, lộp bộp, nặng nề như tiếng đếm thời gian. Không ai biết ngày mai liệu còn nhà để về hay không.
Tôi cởϊ áσ khoác ngoài đang khô dần, lại kéo áo đắp lên người Huyền Lãng. Hắn chẳng ngẩng đầu lên nhìn tôi, nhưng cũng chẳng rời tay khỏi eo tôi lấy một lần, vẫn tiếp tục duy trì tư thế vùi đầu vào trước cổ tôi như thế. Hơi thở của hắn dần ấm lên, tuy không nhiều. Đứa trẻ này lúc này lại yếu ớt tựa như ngọn đèn kia, như thể chỉ cần gió mạnh thêm một chút cũng đủ tắt.
Tôi ôm hắn, ngẩng đầu lên. Trên bức tường loang lổ treo hai bức ảnh thần linh rách nát, mang theo đôi mắt nứt toác nhìn thẳng xuống đám người trần run rẩy. Bên ngoài sấm sét rền vang, nhưng chẳng ai còn phản ứng nhiều nữa. Chỉ có sự im lặng đặc quánh, như mặt nước trước cơn vỡ đê.
Một đêm trôi qua. Mưa vẫn trút, nặng hạt và đều đặn, như thể cả bầu trời xám xịt bị ai xé rách ra, cứ thế mà đổ xuống không ngừng. Người trong miếu im thin thít. Không còn nước mắt, cũng chẳng còn lời than.
Trẻ con đói, người lớn chia nhau vài nắm cơm, củ khoai nát còn sót trong tay nải. Mùi chua loang ra khắp nơi, hòa với mùi bùn, mùi người, mùi khói dầu thắp từ đêm qua. Có mấy người đội mưa đi ra, rồi chán nản quay về. Họ nói rằng lũ nước vẫn lên, chỉ chậm hơn hôm trước.
Huyền Lãng thoáng cựa mình, rồi ngẩng đầu nhìn tôi. Vì không gian để hoạt động quá chật hẹp, hắn vừa ngửa cổ lên, mặt mũi đã kề sát tôi. Đôi mắt hắn đen thẫm, đặc quánh như bóng đêm, giống như trong giây phút còn chưa tỉnh hẳn, một Huyền Lãng sống động của quá khứ trỗi dậy. Tâm tôi lặng như nước, đưa tay vỗ về sau gáy hắn:
“Nước vẫn chưa rút, chịu khó thêm chút.”
Ánh mắt của Huyền Lãng thoáng sáng lên. Hắn gật đầu, đổi tư thế ngồi, nhu thuận ghé vào trước vai tôi, bấy giờ hơi thở mới trở nên đều đều. Một đêm qua ôm tôi cứng ngắc như thế, quả nhiên là hắn chưa từng ngủ cho đến lúc này…
Buổi trưa, gió đổi hướng. Tiếng mưa gõ trên mái ngói nát nhỏ dần, rồi im hẳn. Cái im lặng ấy làm người ta giật mình. Không còn tiếng rì rầm, chỉ còn tiếng nước chảy róc rách ở đâu đó dưới xa, như tiếng ai thở dài.
Giấc ngủ của Huyền Lãng cũng không dài. Đợi hắn tỉnh, tôi mới để hắn ở lại giữ chỗ, bản thân lại chui qua hốc tường, giãn cơ một chút, tiện xem xét xung quanh. Tìm một chỗ kín đáo giải quyết xong nỗi buồn, tôi xách quần đi ra trước cửa miếu.
“Là tiên sinh trú tại nhà Lương Mạnh đó hả?”
Từ phía sau có vài người đi tới. Người đi đầu, cũng là người vừa cất tiếng gọi, là một ông lão trạc ngoài sáu mươi, nom quắc thước rắn rỏi, có đôi mắt sáng ngời như ánh sao. Lương Mạnh cũng đi cùng đám người ấy, vừa thấy tôi liền thở phào nhẹ nhõm:
“Đêm đó gần tới miếu thì loạn quá, may mà Lạc đệ vẫn tới được đây.”
Đoạn, Lương Mạnh giới thiệu:
“Lạc đệ, đây là trưởng làng chúng ta, Lương đại bá.”
Tôi chắp tay cười chào:
“Lương đại bá, hạnh ngộ…”
Lương trưởng làng xua tay:
“Tiên sinh chớ khách sáo. Đêm hôm qua ta đã nắm được tình hình rồi. Nếu như đêm qua ngài không báo động sớm cho nhà họ Lương, không hô hoán to lên thì đúng là chẳng mấy ai phát giác ra sớm mà chạy kịp đến thế. Là cả làng chúng ta phải cảm ơn ngài mới đúng…”
“Lương đại bá chớ nói vậy, đây là điều ai cũng nên làm.” Tôi xua tay, điềm đạm nói, “Lại nói, tiểu sinh còn chưa thi đỗ, đại bá cứ coi ta như con cháu trong làng là được rồi, tiểu sinh là Lạc Ca, gọi là Lạc cũng được ạ.”
Lương trưởng làng bấy giờ mới cười thành tiếng:
“Lạc Ca đã nói thế thì đại bá ta cũng không còn khách sáo nữa.”
Sau đó tôi cùng bọn họ đi dạo quanh gò đất. Bốn bề xung quanh đều là nước xoáy đυ.c ngầu. Chẳng còn đồng ruộng, chẳng còn nhà cửa. Vụn gỗ, rơm rạ trôi nổi lềnh phềnh, xa xa thấp thoáng vài ba mái nhà đang trôi đi. Tiếng nói chuyện dần tắt, ai cũng đau đáu nhìn ra xa.