Chương 2

Thật thảm, một mình kéo vali hành lý, trong mắt mang theo sắc sương mù mịt mờ.

Trời thì lạnh căm, đến mức nước mũi của Hứa Nhất Đa cũng gần như đông cứng lại, cậu ta điên cuồng vẫy tay: “Thiện à, bên này này!” Cậu ta lệ nóng rưng rưng, nhào tới: “Tôi biết mà, cậu là người tốt, không nỡ thấy chết mà không cứu.”

Đàm Thiện cũng định dang tay ôm anh em một cái, nhưng vừa bước xuống bậc thềm thì chân đạp trúng vật gì cứng cứng, lập tức bật người nhảy lên, cúi đầu hét: “Cái quái gì thế này!”

“Hòn đá, hòn đá thôi! Bình tĩnh bình tĩnh!” Hứa Nhất Đa vội túm lấy áo cậu trấn an.

Một tháng rưỡi không gặp, Hứa Nhất Đa trông chẳng khác gì vừa mới lăn từ ruộng ra, ống quần toàn là bùn đất. Đàm Thiện đứng vững lại, đưa tay đẩy mặt cậu ta ra, kiệt sức nói: “Tốt nhất là cậu thật sự có chuyện lớn liên quan đến tính mạng đấy, tôi mệt muốn chết rồi.”

Hứa Nhất Đa “phì” hai tiếng: “Chết cái gì mà chết, nói năng không may mắn chút nào.”

Ga tàu đúng là quá tệ, nói là nhà ga thà gọi là điểm dừng tạm của tàu còn hợp lý hơn. Vài cây cột bê tông dựng lên mái che xe chờ. Nhà vệ sinh thì thủng hai cái lỗ to tướng trên trần, Đàm Thiện vừa kéo vali vừa nhìn thoáng qua bên trong, lập tức quay đầu bỏ đi.

Mặt trời vừa lúc lặn sau núi, mây tầng như bị lửa thiêu đốt, ánh chiều tà dần chuyển sang màu đen tàn, như một vũng máu đông đặc. Khắp nơi phủ màu xám xịt, núi đồi và rừng cây đằng xa mờ mịt u ám, trong không khí còn phảng phất mùi sulfur dioxide do đốt rơm rạ tạo ra.

Đàm Thiện tháo khẩu trang xuống, đưa tay dụi mũi ngứa ngáy: “Thời tiết ở đây như vậy là không tốt sao?”

“Vậy mà còn gọi là không tốt à?”

Hứa Nhất Đa giúp cậu lấy đồ đạc: “Cậu không biết đấy thôi, mấy ngày trước cứ mưa suốt, hôm nay mới có nắng đấy. Thấy không, bên kia, ánh hoàng hôn kìa. Biết đâu chừng là để nghênh đón cậu đấy.”

Đàm Thiện dừng bước, nhìn về phía xa tây: “Cái kia là gì vậy?”

Huyện thành Dương Sa nằm ở khu chuyển tiếp từ đồi núi sang đồng bằng, núi không cao. Ở đằng xa có thể thấy khe hở kẹp giữa ba ngọn núi. Hứa Nhất Đa dừng lại, giải thích: “Chỗ đó toàn là mộ hợp táng, quy mô rất lớn, có đến hơn trăm ngôi. Nếu cậu hứng thú thì lát nữa tôi dẫn cậu đi xem, nhưng không thể đến quá gần đâu.”

Nửa tiếng sau, hai người bắt xe buýt đến một thị trấn dưới huyện Dương Sa, sau đó lại quá giang xe địa phương để vào thôn.

Đàm Thiện ngồi tựa vào cửa sổ xe, gió lùa qua, dọc đường Hứa Nhất Đa giới thiệu: “Chắc cậu từng nghe nói về khu mộ này rồi, lăng mộ hợp táng của vương hầu cuối triều Khương. Người này thích xa hoa. Tài liệu lịch sử còn ghi là Khương hầu mê xe, lấy bích tỷ, phỉ thúy, minh quang, mã não trang trí xe trúc, vét sạch các mỏ đá quý thiên hạ. Hồi cấp hai chúng ta còn từng học đoạn này, tôi nhớ rõ là bài khóa nguyên văn.”

Đàm Thiện có chút ấn tượng, nhưng không rõ ràng: “Hồi đó tôi chỉ mải tám chuyện với cậu, ai còn nhớ bài học là gì đâu.”

Hai người họ quen nhau từ hồi còn mặc quần thủng đáy, học cùng cấp hai, cấp ba rồi lên đại học, chuyên ngành cũng gần nhau — một người học lịch sử, một người học khảo cổ. Chỉ là sau này Đàm Thiện bị bệnh phải nghỉ học một năm, thế là hai người mới không còn học chung nữa.