Nguyên chủ vừa mới lên lớp 8 được một tháng, bài vở đã hổng rất nhiều. Không thể dùng phương pháp học của cấp một để học chương trình học của cấp hai được, học vẹt hay học thuộc lòng máy móc mang lại hiệu quả rất kém, thay vào đó đòi hỏi cần phải hiểu sâu kiến thức. Hơn nữa, cấp hai còn có thêm nhiều môn học mới. Nếu ở cấp một chỉ có Văn, Toán, Anh là môn chính thì cấp hai có thêm Vật lý, Hóa học, Sinh học và Giáo dục công dân, tất cả đều phải thi cử.
Đối với Thụy Hòa, cuộc sống cấp hai đã là chuyện của rất nhiều năm về trước. Khi đó điều kiện học tập không tốt như bây giờ, dù chỉ là một ngôi trường cấp hai bình thường nhưng phòng học vẫn khang trang, sạch sẽ, rất thích hợp để học tập.
Trường học phân chia học sinh vào lớp chọn và lớp phổ thông theo thành tích, mỗi khối chỉ có hai lớp chọn. Nguyên chủ học ở lớp phổ thông, khối 8 của trường có mười một lớp, lớp 1 và lớp 2 là lớp chọn, các lớp còn lại là lớp phổ thông. Nguyên chủ học ở lớp 4, tất nhiên, số thứ tự lớp 4 không có nghĩa là thành tích của lớp này tốt hơn các lớp phía sau, các lớp phổ thông không phân biệt thứ hạng cao thấp.
Hồi lớp 7, Liễu Tòng Võ đã bỏ lỡ nhiều bài giảng. Sau khi lên lớp 8, vì nền tảng không vững nên lỗ hổng kiến thức ngày càng tích tụ nhiều thêm.
Thụy Hòa nghiêm túc nghe xong tiết học đầu tiên, sau giờ học cậu đứng nhìn ra xa để thư giãn đôi mắt. Cậu bạn thân của nguyên chủ khoác vai cậu hỏi: "Hôm qua rủ ông ra quán net, sao ông không tới? Đừng có bảo là không có tiền nhé, tôi đã nói là tôi bao rồi mà."
Người đang nói là Trịnh Tuấn Phong, bạn cùng bàn của nguyên chủ. Gia cảnh cậu ấy khá giả, tính tình phóng khoáng, có nhiều thú vui, tiêu xài cũng bạo tay nên nhân duyên rất tốt. Lúc này quán net đang cực kỳ thịnh hành, chưa cần chứng minh nhân dân mới được vào máy như vài năm sau, vì thế những học sinh cấp hai mười mấy tuổi đầu thường không cưỡng lại được sự cám dỗ.
"Nhà có chút việc, xin lỗi nhé." Thụy Hòa lên tiếng xin lỗi.
Trịnh Tuấn Phong cũng không để ý lắm, hỏi xong là thôi, nhanh chóng chuyển sang chuyện khác: "Tối nay có đi chơi với tôi không? Tôi hẹn với lão Hồ và mấy đứa khác rồi."
"Tối nay tôi bận không đi được, các ông cứ đi đi."
Trịnh Tuấn Phong nhíu mày: "Việc gì mà bận thế?"
Thụy Hòa lộ vẻ khó xử. Trịnh Tuấn Phong lộ vẻ thiếu kiên nhẫn, xua tay: "Không nói thì thôi, lần sau rủ là ông nhất định phải tới đấy, cả hội cùng đi chơi mới vui."
Cậu ấy vừa dứt lời thì chuông vào học vang lên, hai người vội vàng vào lớp.
Sau khi ăn cơm tối xong, Thụy Hòa ra khỏi nhà. Trong nhà chỉ có hai chiếc xe đạp đều đã bị lấy đi mất, Thụy Hòa đành đi bộ.
Kế hoạch tối nay của cậu là kiếm tiền. Trên người không có lấy một xu thực sự khiến người ta hoang mang, muốn làm gì cũng không được. Trước đây nguyên chủ cũng tích cóp được vài đồng tiền tiêu vặt, nhưng tiêu cũng nhanh, lúc cậu tiến vào thế giới nhiệm vụ này thì nguyên chủ đã tiêu sạch sành sanh tiền tiêu vặt từ lâu.
Năm 2004, tuy thành phố nhỏ bình thường này không quá phồn hoa nhưng các ngành nghề phát triển khá tốt, những thứ cần có đều có, ví dụ như quán net hay các loại hình ăn uống đa dạng. Thụy Hòa định tìm việc bán thời gian ở các quán ăn, dù là bưng bê hay rửa bát đều được.
Phải kiếm tiền trước đã!
Nếu không thì ngay cả tiền ra quán net tra cứu thông tin cũng không có, bây giờ giá ngồi net hai tiếng là hai tệ năm hào.
Kinh tế gia đình đang căng thẳng, Thụy Hòa cũng không muốn ngửa tay xin tiền vợ chồng Liễu Vệ Hà.
Tìm kiếm cả tối không có kết quả, tối hôm sau Thụy Hòa tiếp tục đi tìm, lần này cậu tìm được một công việc bán thời gian ở đường Giang Thành. Đường Giang Thành thực chất là đường ven sông, nơi đây quanh năm có các sạp hàng rong bày bán, đặc biệt là các hàng đồ nướng và hàng kem trái cây, gần như chiếm trọn phần vỉa hè chỗ ven sông.
Trong ký ức của nguyên chủ, khoảng ba bốn năm nữa sẽ có kiến thiết thành thị văn minh, những sạp hàng không đúng quy định sẽ bị dẹp bỏ hết, đường ven sông sẽ không còn ai dám tới bày bán nữa.
Nhưng hiện tại, các hàng đồ nướng ven sông vẫn cực kỳ đắt hàng. Quanh đây cũng không có chỗ nào chơi bời, đến cả công viên hay vườn hoa cũng không có nên nhiều người địa phương đã quen ra đường ven sông chơi đùa từ nhỏ. Cộng thêm khu vực này vừa xây dựng khu chung cư đầu tiên vào năm kia, trông vô cùng bề thế, lúc mở bán còn tổ chức sự kiện rầm rộ nên càng nổi tiếng, người đến đây tản bộ lại càng đông hơn.
Những đêm hè, đường ven sông có gió thổi l*иg lộng, quả là một nơi giải khuây lý tưởng. Các hàng kem trái cây làm ăn phát đạt, những ly kem trái cây đông đá cứng ngắc giá một tệ một ly rất được trẻ em ưa chuộng. Hàng kem còn bày thêm mấy bộ bàn ghế, trên bàn có một lọ bột xí muội, mua một ly kem rồi ngồi nhâm nhi, rắc thêm chút bột xí muội chua ngọt lên trên, mùi vị quả thực là tuyệt hảo.
Cũng có những đứa trẻ chơi trò đánh cược, múc một thìa đầy bột xí muội, cùng lúc há miệng "a" một tiếng thật to rồi tống hết vào mồm, ngay lập tức bị chua đến mức ngũ quan nhăn nhúm như dưa muối, phải vội vàng ngậm một miếng kem để làm dịu lại.
Đây là ký ức của nguyên chủ, trước đây cậu ta cũng rất thích nghịch như vậy. Tiếc là mùa hè năm nay cậu ta vẫn chưa để dành được đồng tiền tiêu vặt nào, đến một ly kem cũng chưa được ăn.
Công việc bán thời gian Thụy Hòa tìm được không phải ở hàng kem vì hàng kem dễ dọn dẹp, người nhà chủ quán có thể tự lo liệu được, bởi vậy cậu tìm đến sạp đồ nướng. Bấy giờ nhiều người bán hàng rong đều huy động cả gia đình, người thân phụ giúp, từ trong ra ngoài toàn là người nhà, dù sao thì có tiền cũng ưu tiên người nhà kiếm trước. Nhưng khi hè đến, số lượng người ra ngoài hóng mát tăng đột biến, mùi đồ nướng thơm nức mũi vô cùng mời gọi, chỉ cần ngửi thấy là trẻ con không chịu rời đi, mà ngay cả người lớn cũng thích món này. Gọi một đĩa đồ nướng thật lớn, mua vài chai bia ướp lạnh, rồi mua cho vợ con mấy ly kem trái cây ở hàng bên cạnh, thế là có thể thảnh thơi tận hưởng làn gió sông suốt cả tối.
Làm ăn quá tốt khiến người nhà cũng bận tối mắt tối mũi, buộc phải tuyển thêm người.
Thuê người làm lâu dài thì không có lời, Thụy Hòa đề xuất làm theo buổi, nhận lương theo ngày, thế là nhanh chóng tìm được một chỗ. Một đêm được trả mười hai tệ, làm từ bảy giờ tối đến mười hai giờ đêm.
Thụy Hòa quyết định bắt đầu làm ngay tối nay: "Nhưng cháu chưa nói chuyện với cha mẹ về việc về muộn, tối nay muộn nhất cháu chỉ làm được đến mười giờ thôi. Chú cứ tính cho cháu nửa tiền công là được."
Ông chủ rít điếu thuốc rồi đồng ý: "Được, vậy cháu bắt đầu làm đi, đầu tiên đi rửa rau đã."
Lúc này chưa đến bảy rưỡi, khách chưa đông lắm. Ông chủ đang nhóm bếp nướng, bà chủ đang xiên thịt, con trai và con gái thì bày bàn ghế, không thì khứa cánh gà rồi bỏ vào chậu nhôm để tẩm ướp.
Rửa rau không khó. Thụy Hòa liếc qua một lượt, chỗ rau cần rửa gồm có hẹ, nấm kim châm, cà tím và rau muống.
Bận rộn đến tám rưỡi, khách khứa bắt đầu đông dần, tới chín rưỡi thì việc kinh doanh đã vào guồng rất tốt. Thụy Hòa vừa rửa rau, vừa dọn bàn, thỉnh thoảng còn kiêm luôn việc gọi món. Ông chủ thấy cậu có trí nhớ tốt, chưa từng nhầm lẫn thì rất hài lòng. Sau khi cho Thụy Hòa làm đến mười rưỡi, ông ấy đưa cậu mười tệ và dặn tối mai đến đúng giờ.
Thụy Hòa cất mười tệ vào túi, đạp xe như bay về nhà. Cửa lớn không khóa, gian ngoài để một ngọn đèn ngủ nhỏ. Thụy Hòa rón rén vào nhà lấy quần áo, tiếng của Ngô Mỹ Phương vang lên trong bóng tối: "Thằng hai hả?"
"Vâng mẹ, con đã về."
"Sao mùi dầu mỡ nồng thế?" Ngô Mỹ Phương ngồi dậy: "Lại đi chơi bời ở đâu đấy? Suốt ngày tiêu tiền bừa bãi, mày không biết kiếm tiền khó thế nào à?"
Lúc này nguyên chủ đã bắt đầu "đua đòi", nếu không thì cũng chẳng tiêu sạch tiền tiêu vặt như vậy.
Thụy Hòa không muốn tranh cãi với Ngô Mỹ Phương, trời đã khuya, sáng mai vợ chồng bà còn phải dậy sớm. Thế là cậu hạ thấp giọng: "Không có đâu mẹ, con chỉ đi dạo vỉa hè ven sông thôi. Con đi tắm đây."
Nói rồi, cậu ra gian ngoài lấy xô, sau đó ra chum nước ngoài nhà múc nửa xô, nương theo ánh trăng dội rửa qua loa trước cửa, thay quần áo xong mới vội đi ngủ. Đi làm thêm kiểu này là vậy, vụn vặt và bận rộn. Cả buổi tối hôm nay không biết cậu đã cúi người, ngồi xổm bao nhiêu lần, sớm đã mệt đến rã rời cả người.
Cậu cẩn thận leo lên gác xép, động tác vừa nhẹ vừa chậm, hễ phát hiện có tiếng động là cậu dừng lại ngay. Đoạn thang gỗ ngắn tủn mà cậu phải leo mất tận năm phút. Khi nằm xuống chiếu trúc, Thụy Hòa mới từ từ thở hắt ra một hơi, chỉ thấy theo nhịp thở, vùng lưng cũng đau nhức co rút lại.
Những ngày tiếp theo cậu đều bận rộn như thế. Thụy Hòa còn nói với Ngô Mỹ Phương là đi làm mấy việc vặt với bạn học: "Con không tiêu xài bừa bãi đâu." Mà thực ra cũng chẳng có tiền để mà tiêu.
Ngô Mỹ Phương dành ra một buổi tối ra đường ven sông xem Thụy Hòa làm việc, bấy giờ mới yên tâm. Quay về bà còn nói với chồng: "Thằng hai dạo này ngoan hơn hẳn, còn biết kiếm tiền nữa." Liễu Vệ Hà hút thuốc, trầm giọng bảo: "Thôi đừng để nó đi nữa, tối nào cũng làm đến hơn mười hai giờ đêm thì hại người lắm, nhà mình cũng đâu đến mức không có cơm ăn."
"Nhà mình cũng chẳng dư dả gì." Ngô Mỹ Phương thấy con trai thứ khá đảm đang: "Cũng chẳng có nhiều tiền cho tụi nó tiêu vặt. Thằng cả sắp thi cấp ba rồi, thằng út cũng sắp thi chuyển cấp, học phí cấp ba cao hơn cấp hai, mà học phí cấp hai của thằng út cũng tốn hơn cấp một nhiều." Cứ nghĩ đến chuyện này là bà lại phiền lòng: "Dù sao nó tự kiếm tiền tiêu vặt, tôi cũng có lấy của nó đồng nào đâu."
Liễu Vệ Hà nghe vậy bèn im lặng.
Thụy Hòa cứ thế vất vả suốt hai tháng trời, tích cóp được hơn 740 tệ.
Không ai trong nhà biết cậu kiếm được nhiều như thế, Ngô Mỹ Phương cũng không ngờ con trai thứ lại có thể kiên trì suốt hai tháng, không nghỉ ngày nào.
Sau khi có được số vốn khởi đầu, Thụy Hòa bắt đầu thường xuyên ra tiệm net để lên mạng, dần dần tìm hiểu về xã hội này.
Liễu Tòng Bân thấy Thụy Hòa có tiền thì muốn mượn, Thụy Hòa lắc đầu: "Em muốn có tiền tiêu vặt thì tự đi mà kiếm như anh ấy."
"Em chẳng thèm đi rửa bát đâu." Liễu Tòng Bân bĩu môi: "Xấu hổ chết đi được."
"Thế sao em còn tìm anh mượn tiền? Tiền của anh cũng từ việc "xấu hổ" đó mà ra đấy."
"Anh hai..."
Thụy Hòa ngó lơ, tiếp tục làm bài tập. Sắp đến kỳ thi cuối kỳ nên giáo viên phát rất nhiều đề cương.
Liễu Tòng Bân không vui: "Sao anh keo kiệt thế! Em mách mẹ cho xem!"
"Ừ, mách đi."
Bên ngoài vang lên một tiếng đùng đoàng, có sấm sét ở đằng xa.
Thụy Hòa ngẩng đầu nhìn ra ngoài, chắc là sắp mưa rồi, hèn chi trong nhà cứ tối dần đi. Cậu đặt bút xuống, ra ngoài thu quần áo, vừa thu xong thì những hạt mưa to bằng hạt đậu đã trút xuống. Thụy Hòa thấy Liễu Tòng Bân đang lục lọi ba lô của mình thì nhíu mày: "Thằng út, em làm cái gì đấy?"
"Có làm gì đâu." Liễu Tòng Bân rụt tay lại, dường như vừa nhét thứ gì đó vào ba lô của mình.
"Đưa đây." Thụy Hòa bước tới giành lấy ba lô của Liễu Tòng Bân. Liễu Tòng Bân la oai oái: "Làm gì thế, đây là ba lô của em!" Cậu nhóc nhất quyết không cho xem.
Tiếc là cậu nhóc còn chưa tới tuổi dậy thì, dáng người hơi mập lại lùn, hoàn toàn không phải đối thủ của Thụy Hòa. Thụy Hòa tìm thấy cuốn sổ tay của mình từ trong ba lô của cậu bé. Đây là cuốn sổ có khóa số mà cậu đặc biệt mua, dù chẳng bảo mật được bao nhiêu nhưng ít nhất cũng ngăn người khác tùy tiện lật xem những gì cậu viết.
"Anh hai! Đây là cái gì? Nhật ký của anh hả? Cho em xem tí đi!"
Thụy Hòa nhìn cậu bé, nghiêm giọng nói: "Liễu Tòng Bân, tự ý lấy đồ mà không hỏi là trộm cắp. Dù chúng ta là anh em ruột nhưng cũng phải tôn trọng quyền riêng tư của nhau, lần sau không được phép lục lọi đồ của anh khi anh chưa đồng ý."
Liễu Tòng Bân thấy mất mặt, cãi chày cãi cối: "Trộm gì mà trộm, em chỉ xem qua thôi. Không cho xem thì thôi, hừ!" Nói đoạn, cậu bé đi vào phòng trong bật tivi.
Thụy Hòa cất kỹ cuốn sổ tay. Thấy mưa càng lúc càng nặng hạt, cậu định ra chợ đưa ô cho Ngô Mỹ Phương và Liễu Vệ Hà.
Trong nhà, thấy Thụy Hòa vừa đi khỏi, Liễu Tòng Bân lập tức nhảy dựng lên. Anh hai không cho xem thì cậu bé càng muốn xem cho bằng được. Thế nhưng cuốn sổ tay có khóa trong ba lô đã biến mất, cậu bé lục tung cả cái bàn cũng không tìm được gì.
"Lạ thật, giấu đi đâu rồi không biết..."