Chương 7

Bên trong một hang đá, chừng hai mươi đứa trẻ đang nằm ngổn ngang. Một tấm da thú mỏng manh, rách vài lỗ, đang che cho bảy tám đứa, còn những đứa trẻ khác không được che thì hoặc có chăn da thú của riêng mình, hoặc chỉ biết co ro ở một góc. Dù là có chăn đắp hay không, tất cả đều đang ngủ rất say.

Vì đã lâu không được dọn dẹp, lại thêm có nhiều người ngủ nên trong động bốc lên một mùi hôi khó chịu. Ánh nắng len lỏi qua những lỗ thông gió được đυ.c xung quanh, miễn cưỡng mang lại chút ánh sáng cho hang động vốn âm u.

Ở một góc trong động, ngay bên dưới lỗ thông gió, có một đứa trẻ mặc bộ đồ da thú rách rưới đang say ngủ. Tuy nhiên, điều khác biệt so với những đứa trẻ khác là bên cạnh cậu còn có một con chó lớn, kích thước cũng gần bằng cậu, đang nằm ngủ say sưa.

Thiệu Huyền mở mắt, nhìn ánh nắng đã chiếu đến ngang vai, bèn dụi dụi mắt rồi bò dậy dọn dẹp đám cỏ khô lót bên dưới. Thấy động tác của Thiệu Huyền, con chó lớn vốn đang nhắm mắt bên cạnh liền nhanh chóng đứng dậy, ngoan ngoãn ngồi xổm sang một bên để cậu tiện thu dọn đám cỏ khô mà nó vừa đè lên.

Sau khi bó cỏ khô xong, Thiệu Huyền một tay xách bó cỏ, một tay nắm dây thừng dắt chó, bước ra khỏi cửa động.

Chẳng hiểu sao mình lại xuyên đến một nơi giống hệt như bộ lạc thời nguyên thủy thế này, lại còn trở thành một đứa nhóc con trong một bộ lạc nằm sâu giữa núi rừng hoang vu. Thân thể này vốn rất gầy yếu, có lẽ chủ cũ của nó đã không qua khỏi một trận bạo bệnh. Kể từ lúc Thiệu Huyền tỉnh lại trong thân thể này đến nay, cũng đã hơn nửa năm trôi qua. Dù có không quen đến mấy, cậu cũng chỉ có thể cắn răng chịu đựng, bởi vì sống sót mới là điều quan trọng nhất.

Thiệu Huyền chưa bao giờ nghĩ mình sẽ thật sự đến một nơi như thế này. Nơi đây khác xa so với những gì cậu từng biết về các bộ lạc nguyên thủy thời kỳ đồ đá. Người ở đây trông bề ngoài không có gì đặc biệt, nhưng bản chất thì hoàn toàn khác.

Bạn đã bao giờ thấy một người bình thường có thể một tay nhấc bổng tảng đá to bằng cái lu nước mà vẫn ung dung đi dạo trên đường chưa?

Hay đã bao giờ thấy ai đó không cần bất kỳ công cụ hỗ trợ nào mà có thể nhảy cao bằng tòa nhà ba tầng, rồi từ trên cây cao hơn chục mét nhảy xuống mà vẫn đứng vững như không chưa?

Dù sao thì, kiếp trước Thiệu Huyền chưa từng thấy, còn kiếp này... ngày nào cậu cũng được chứng kiến!

Còn về hang đá mà cậu vừa bước ra, tên gốc của nó là "Động Phục Ngưu", bởi vì hang trông giống như một con trâu bị đánh cho nằm rạp xuống đất. Cái tên này là do "Vu" của bộ lạc năm xưa đặt cho. Thế nhưng, sau gần một ngàn năm trôi qua, thời gian biến đổi, bộ lạc ngày càng sinh sôi nảy nở, mọi người đều đã tự xây nhà cửa ở bên ngoài. Cuối cùng, hang động này được dùng làm nơi cưu mang những đứa trẻ mồ côi trong bộ lạc, vì vậy mà người ta cũng gọi nó là "Động Hài Nhi". Những đứa trẻ sống ở đó đều không có người thân chăm sóc, cũng chẳng có ai trong bộ lạc muốn nhận nuôi. Tóm lại, "Động Hài Nhi" chính là cô nhi viện của bộ lạc.

Kể từ khi đến đây, Thiệu Huyền chưa từng gặp bất kỳ ai từ bộ lạc khác. Nghe nói, trong cả dãy núi này chỉ có duy nhất bộ lạc "Viêm Giác" của họ mà thôi.

Một bộ lạc biệt lập, với cuộc sống hoàn toàn tự cung tự cấp.

Dắt theo con chó, Thiệu Huyền thong thả rảo bước.

Chẳng bao lâu sau, cậu đã thấy những ngôi nhà gỗ lớn nhỏ khác nhau, trong đó cũng có một số được xây bằng gỗ, đá, cỏ và bùn đất. So với những ngôi nhà gỗ đơn thuần, những căn nhà xây bằng gỗ đá này có phần lớn hơn một chút, trông cũng kiên cố hơn. Chúng có thể được xem là những "biệt phủ" ở khu vực gần chân núi này.

Bất kể là nhà gỗ hay "biệt phủ" gỗ đá, trong mắt Thiệu Huyền, chúng đều là những công trình thô sơ đến mức không thể tả nổi. Tuy nhiên, sau một thời gian dài sống ở đây, Thiệu Huyền lại vô cùng khao khát có một ngôi nhà gỗ của riêng mình, chỉ có điều, ở giai đoạn hiện tại thì điều đó là không thể.

Vào lúc này, đã có người ra ngoài hoạt động. Đàn ông thì mang công cụ bằng đá của mình ra mài giũa, chuẩn bị cho chuyến đi săn tiếp theo. Phụ nữ cũng có công việc riêng của họ, như vá may da thú, phơi khô thực phẩm...

Khi Thiệu Huyền đi ngang qua, không ít ánh mắt đều đổ dồn về phía cậu. Nhưng không phải là nhìn cậu, mà là nhìn chằm chằm vào sinh vật mà cậu đang dắt theo, trong mắt lộ rõ vẻ tham lam và thèm thuồng, không ngừng nuốt nước bọt. Trong mắt họ, thứ mà Thiệu Huyền đang dắt theo chính là một tảng thịt di động khổng lồ, đủ cho họ ăn no mấy bữa. Những người phải dậy sớm làm lụng trong khi bụng vẫn còn đói rỗng, ánh mắt nhìn con vật lại càng long lên sòng sọc. Thế nhưng, sau khi nhìn thấy vật đeo trên cổ nó, mọi người đều phải nuối tiếc kìm nén ý định xông lên cướp đoạt. Đó là tấm thẻ bài của "Vu", nó có nghĩa là con vật này thuộc sở hữu của Vu, bọn họ không dám động vào. Trong mắt họ, Thiệu Huyền chẳng qua cũng chỉ là người trông chừng con sói đó giúp Vu mà thôi.

Đúng vậy, sinh vật đi theo bên cạnh Thiệu Huyền thực chất là một con sói. Nó được sinh ra giữa núi rừng, chỉ có điều, khi còn nhỏ, nó đã bị một chiến binh của bộ lạc trong lúc đi săn bắt gặp và mang về cho Thiệu Huyền làm thức ăn. Và rồi, đúng vào lúc đó, Vu của bộ lạc tình cờ đi ngang qua, ngài để lại một tấm thẻ bài có khắc Vu văn rồi rời đi. Thiệu Huyền bèn đặt tên cho con sói đó là "Khải Tát", đây cũng là tên của con chó mà cậu từng nuôi ở kiếp trước. Cứ như vậy, cậu nuôi nấng Khải Tát như một con chó bên cạnh mình cho đến tận bây giờ.

Tư duy của người ở đây rất kỳ lạ. Rõ ràng là họ vô cùng kính trọng Vu, thế nhưng sau khi thấy Vu đưa cho Thiệu Huyền một tấm thẻ bài, thái độ của họ đối với cậu lại chẳng thay đổi là bao. Điểm khác biệt duy nhất có lẽ là họ đã cố nhịn không làm thịt Khải Tát mà thôi, còn những chuyện khác, thì vẫn như cũ. Suy cho cùng, Vu cũng đâu có nói mọi người phải giúp đỡ Thiệu Huyền. Một nhân vật lớn như Vu, làm gì có thời gian để tâm đến một đứa trẻ con. Lâu dần, mọi người cũng quen với sự tồn tại của một đứa bé dắt theo sói. Cứ thế, Khải Tát từ một con sói con răng còn chưa mọc đủ đã lớn tướng như bây giờ, mà vị Vu kia thì chưa từng xuất hiện lại lần nào.

Chỉ có một điều khiến những người sống ở khu vực chân núi thắc mắc, đó là tại sao Thiệu Huyền lại gọi Khải Tát là chó?

Và "chó" rốt cuộc là cái gì?

Thắc mắc này cũng không kéo dài được bao lâu, bởi vì chẳng ai buồn để tâm đến nó nữa. Họ lười phải bận tâm và còn phải đi lo những việc quan trọng hơn – đó là thức ăn.

Thiệu Huyền đã quá quen với những ánh mắt xung quanh nên cậu vẫn thản nhiên dắt Khải Tát đi tiếp. Người trong bộ lạc dù có tham lam đến mấy cũng sẽ không dám cướp đồ của Vu, bởi như Thạch Kỳ đã nói, địa vị của Vu trong bộ lạc là vô cùng cao. Còn về lý do tại sao vị Vu sống ở "khu nhà giàu" trên núi, người có địa vị thuộc hàng nhất nhì bộ lạc lại ban cho một kẻ mờ nhạt ngủ trong "Động Hài Nhi" một tấm thẻ bài quý giá như vậy, thì có lẽ là do một từ mà Thiệu Huyền đã nhắc đến lúc đó – "thuần dưỡng". Vốn dĩ lúc ấy Thiệu Huyền chỉ định nói là sẽ nuôi Khải Tát, khi đó vẫn còn là một con sói con, lớn thêm chút nữa rồi mới ăn thịt. Nhưng Vu tình cờ đi ngang qua nghe được, bèn bảo Thiệu Huyền hãy nuôi nó lớn lên. Để ngăn người trong bộ lạc tranh cướp, Vu đã để lại một tấm thẻ bài, và tấm thẻ đó được đeo trên cổ Khải Tát.

Vị "Vu" kia tỏ ra rất hứng thú với việc thuần dưỡng, thế nhưng hơn nửa năm nay, lão già đó lại chưa từng xuất hiện. Vì vậy, ấn tượng của Thiệu Huyền về lão già đó là – một lão thần côn vô trách nhiệm. Nuôi sói dễ lắm sao? Ngày nào cũng bị những kẻ mắt sáng rực như đèn pha xung quanh nhìn chằm chằm, nếu không có một tinh thần thép thì sớm đã phát điên rồi.

Tóm lại, việc nuôi Khải Tát hoàn toàn là do một sự tình cờ.

Cuộc sống sao mà gian nan thế! Mặc dù thức ăn ở Động Hài Nhi đều do bộ lạc cung cấp, nhưng vẫn đói lắm.

Thiệu Huyền bất lực thở dài, rồi đưa mắt nhìn về phía trước, và rồi khóe mắt cậu giật giật.

Phía trước có một người đàn ông đang vác một cây gậy đá, dài khoảng hai mét, hình dáng tựa như một cây gậy bóng chày nhưng to hơn rất nhiều. Món đồ này trông cực kỳ nặng, nếu theo tiêu chuẩn ở kiếp trước của Thiệu Huyền, thì dù có vác nổi cũng sẽ vô cùng vất vả. Thế nhưng người đàn ông kia lại tỏ ra nhẹ nhàng như thể chỉ đang vác một cây cuốc bình thường, vừa đi vừa uể oải ngáp, chậm rãi đi lên núi. Có lẽ là ông ta định đi bàn bạc chuyện săn bắn với đội săn của mình.

Đây chính là người ở nơi này, một người bình thường. Còn về phần Thiệu Huyền, cậu hiện tại thuộc nhóm yếu thế vì chưa thức tỉnh được sức mạnh Đồ đằng. Phải đợi đến khi cậu trưởng thành khoảng mười tuổi và thức tỉnh được sức mạnh Đồ đằng, thì mới có thể được xem là một chiến binh bình thường trong bộ lạc có khả năng ra ngoài săn bắn. Sức mạnh Đồ đằng, chính là tiêu chuẩn duy nhất để bộ lạc đánh giá một người có thể trở thành chiến binh đi săn hay không.

Còn sức mạnh Đồ đằng rốt cuộc là gì, Thiệu Huyền cũng không rõ, có lẽ đến lúc đó cậu sẽ tự mình hiểu ra.

Lúc này, người đàn ông vác gậy đá đi phía trước Thiệu Huyền với bộ dạng ngái ngủ hoàn toàn không nhận ra chiếc khố da thú ông ta đang mặc sắp tụt đến đầu gối, cứ thế mà trơ trơ giữa thanh thiên bạch nhật. Những người xung quanh thấy vậy cũng chẳng có phản ứng gì.

Thiệu Huyền nhịn một lúc, cuối cùng vẫn phải lên tiếng: "Bác vác gậy phía trước ơi, khố của bác rơi rồi kìa!"

Người đàn ông đi phía trước phải đến khi Thiệu Huyền gọi lần thứ ba mới ngáp một cái rồi quay người lại. Ông ta liếc nhìn về phía Thiệu Huyền, ánh mắt dừng lại trên người Khải Tát khoảng nửa phút, rồi mới cúi đầu nhìn chiếc khố đã tuột xuống, sau đó bình tĩnh kéo khố lên, buộc lại dây da, rồi tiếp tục vác gậy đi lên núi.

Thiệu Huyền không nói thêm lời nào nữa.

Đối với người trong bộ lạc mà nói, lễ, nghĩa, liêm, sỉ ư? Cái thứ đó là gì? Ăn được không? Không ăn được thì nói làm gì cho mệt.

ps: Từ chương này nam 9 sẽ được gọi là "cậu" cho phù hợp nhé