“Bên này là phía Tây làng? Hộ còn lại có xa không?” Chung Hoài Lâm nhìn quanh, thấy một bên đường có độ dốc, cuối đường là những hàng cây rậm rạp, rồi hỏi.
Thiệu Văn Phong lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, nói: “Đúng, phía Tây làng, đi về phía đó là rừng cây và núi lớn. Hộ còn lại nằm ở phía Đông của làng, nói gần thì không gần, nhưng quả thực cũng không xa.”
Dư Tịch Thời liếc nhìn trán ông ta, vầng trán của người đàn ông khá cao, trông rất nhẵn nhụi, những giọt mồ hôi lấm tấm đó dưới ánh nắng khẽ lấp lánh.
Vùng núi sâu của Kiệu Châu mát mẻ hơn trong nội thành nhiều, mặc dù đường sá gồ ghề có bụi, nhưng không khí pha lẫn mùi cỏ cây cũng đặc biệt trong lành, nhiệt độ này mà đứng ngoài trời lâu như vậy lại đổ mồ hôi, quả thực hơi kỳ lạ.
Mặc dù Thiệu Văn Phong có rất nhiều điểm đáng ngờ, nhưng hiện tại không thể trực tiếp chất vấn ông ta, Dư Tịch Thời đi theo sau Trình Nhĩ, suốt đường đều rất yên tĩnh.
Thiệu Văn Phong vẫn tận tụy và có trách nhiệm giới thiệu: “Hộ này có hai người già đã mất, cũng là dân bản địa, đều hơn năm mươi tuổi, cơ thể khá khỏe mạnh. Người đàn ông đã mất vợ, người phụ nữ đã mất chồng, không có con cái, họ sống nương tựa vào nhau.”
Căn nhà cấp bốn thứ hai rộng hơn một chút nhưng cũng khó che giấu sự cũ kỹ. Trên bậc đá trong sân phủ đầy rêu xanh sẫm, hơi ẩm ướt, dễ trượt chân. Dư Tịch Thời liếc nhìn luống rau trồng trên đất, thấy chúng cũng không phát triển tốt lắm.
“Vừa nãy trên đường cũng có thể thấy mùa màng năm nay phát triển không tốt lắm. Hình như năm nay thành phố Kiệu Châu ít mưa, độ ẩm cao nhưng không mưa.” Dư Tịch Thời tiện miệng nói.
Chung Hoài Lâm cười cười nói: “Cũng chẳng trách kinh tế ở đây khó phát triển. Mấy thôn này gần núi nhưng xa sông nước, những chiếc chum lớn trong sân dùng để hứng nước. Nghe nói đôi khi tưới tiêu cũng phải vận chuyển nước thủ công, rất bất tiện.”
Bước vào gian nhà chính, Dư Tịch Thời cũng quan sát bố cục, phát hiện nó không giống với hộ trước đó. Bếp lò và giường sưởi của hộ này nằm liền kề, toàn bộ gian chính không có góc khuất, nhưng hai bên có cửa nối với hai gian nhà phụ phía đông và tây.
Giường sưởi cứng dính sát cửa sổ, trên chăn nệm cũng dính vết máu đỏ sẫm. Ngay cạnh giường là chiếc bàn gỗ dùng để ăn cơm, bàn đã phai màu, các cạnh đều cùn, trên đó cũng dính máu.
Qua hiện trường vụ án có thể suy đoán, nạn nhân hẳn là trong quá trình giằng co và chống cự đã bị hung thủ đẩy ngã, đập đầu vào cạnh bàn.
Những nơi khác đều khá gọn gàng, không bị hư hại gì. Chiếc tivi kiểu cũ đối diện giường sưởi rất nhỏ, bên cạnh tivi đặt hộp kim chỉ và cuộn len, cùng với những bộ quần áo cũ đã bạc màu do giặt giũ vá víu.
Với kinh nghiệm vừa rồi, lần này Dư Tịch Thời nhanh chóng tập trung ánh mắt vào cuộn len. Anh cúi người lại gần nhìn, phát hiện trên cuộn len có dính những sợi lông mèo nhỏ li ti gần như không thể thấy được, có lẽ là do mèo chơi đùa dính vào.
Trình Nhĩ cũng phát hiện ra cái bát ở góc tường. Thứ trong bát không rõ là gì, nhão nhoét và khô nứt như thịt xay khô, hẳn là cơm thừa hoặc thức ăn tương tự, đã mốc và bốc mùi hôi thối, chắc là đã để mấy ngày rồi.
“Chắc nhà này cũng nuôi mèo nhỉ.” Dư Tịch Thời chỉ vào sợi lông mèo trên cuộn len, nói với Trình Nhĩ, giọng điệu bình thản, không lộ cảm xúc.
Trình Nhĩ khẽ nhếch đuôi mắt, khóe môi hiện lên nụ cười nhạt: “Xem xét kỹ lưỡng đấy. Tự tin lên, nhà này đúng là có nuôi mèo rồi. Nhà nào không nuôi chó mèo mà lại đặt bát cơm thừa xuống đất chứ?”
Chung Hoài Lâm im lặng rất lâu. Anh nghĩ đến một số người có xu hướng phạm tội, ví dụ như những người rối loạn nhân cách hoặc bệnh nhân tâm thần sẽ ngược đãi chó mèo, nhưng anh không thể nào liên hệ việc này với vụ án. Thế là anh trực tiếp hỏi: “Nói thật, việc nuôi mèo có liên quan trực tiếp gì đến vụ án này không?”