Sáng sớm mùa hè, trước cổng đạo quán Càn Nguyên trên đỉnh Mao Sơn, một thiếu niên chừng hai mươi đang ngồi xếp bằng, mặt hướng về phía Đông, dáng vẻ như đang nhập định.
Bỗng từ trong quán, một lão đạo sĩ râu tóc rối bù bước ra, vẻ mặt giận dữ, quát lớn: “Diệp Tri Thu! Lớn đầu rồi mà còn bày trò nghịch nước nghịch bùn à?”
Thiếu niên không ngoảnh lại, giọng bình thản: “Sư phụ, con đâu có nghịch bùn gì đâu. Con đang luyện công mà.”
Lão đạo hừ lạnh: “Luyện công? Ta thấy con không nghịch bùn thì cũng đang rửa súng thôi!”
“Sư phụ à, người chẳng lẽ không phân biệt nổi chút thường thức nào sao? Nghịch bùn là phải dùng cả hai tay. Rửa súng thì chỉ cần một tay, lặp lại động tác liên tục là được. Còn con ngồi yên từ nãy tới giờ, không nhúc nhích lấy một ngón, sao lại thành nghịch bùn hay rửa súng được? Con nói thật, con đang luyện công đó!”
Vừa dứt lời, Diệp Tri Thu khẽ chỉnh lại tư thế ngồi, nhanh tay tắt màn hình điện thoại vẫn đang phát Aoi-sensei, rồi từ tốn đứng dậy, quay người nhìn sư phụ, nét mặt trong trẻo như chưa từng làm chuyện gì mờ ám.
“Nhìn sắc mặt con đỏ ửng, hơi thở gấp gáp, ánh mắt tán loạn, rõ ràng là lục căn chưa tịnh. Nhất định là vừa xem vừa làm!”
Lão đạo trừng mắt nhìn đồ đệ, rồi bất chợt thở dài một tiếng: “Haaizz… Mười năm ta dạy con học đạo, giờ thầy trò ta duyên tận nghĩa cạn. Tri Thu, thu dọn đồ đạc đi xuống núi thôi.”
“Hả? Sư phụ đuổi con thật à?”
Mắt Diệp Tri Thu sáng rực như vừa nghe trúng số.
“Haaizz…”
Lão đạo lại thở dài, chắp tay sau lưng, quay mặt đi, giọng trầm buồn: “Người có hợp có tan, trăng có khi tròn khi khuyết. Trên đời làm gì có yến tiệc nào không tàn. Nếu sau này con còn nhớ đến ta…”
Vù!
Chưa kịp dứt câu, Diệp Tri Thu đã phóng như thỏ bị dí chổi. Hắn lao vụt vào trong, vơ vội tay nải, rồi nhảy bật ra như lò xo, hô toáng lên: “Sư phụ! Con đi nha! Hẹn gặp lại!”
Nói xong, hắn như tên rời cung, bắn thẳng xuống núi không ngoái đầu.
“Cái thằng nhãi ranh chết tiệt! Ta còn chưa nói xong mà con đã dông rồi hả?”
Lão đạo tức đến mức ria mép rung bần bật, mắt trợn trừng như muốn lồi ra ngoài.
“Chưa nói hết thì thôi! Sau này sư phụ về báo mộng cho con cũng được! Bị nhốt mười năm trên núi, hôm nay cuối cùng cũng được về với văn minh nhân loại rồi!”
Tiếng hét phấn khích của Diệp Tri Thu vang vọng cả sườn núi.
Hắn chạy một mạch đến lưng chừng sườn, lúc này mới dừng lại, ngoảnh đầu nhìn về phía đạo quán Càn Nguyên trên đỉnh.
Hắn hít một hơi thật sâu, rồi ngửa mặt lên trời hú dài một tiếng, âm thanh vang vọng giữa rừng núi.
Suốt mười năm qua, hắn chưa từng rời Mao Sơn nửa bước. Giờ được xuống núi, trong lòng bỗng dâng trào một cảm giác khó tả, phấn khởi, hồi hộp, và nhẹ nhõm như thoát khỏi l*иg giam.
Hú xong một tiếng, cả người như được gột sạch bụi trần. Tinh thần phơi phới, bước chân nhẹ tênh, Diệp Tri Thu hăm hở men theo đường mòn, tiếp tục hành trình xuống núi.
Quê nhà của Diệp Tri Thu nằm ở vùng núi phía Đông Hoàn, thuộc địa phận Lang Gia, cách Mao Sơn vài trăm cây số.
Sau ba lần chuyển xe, trải qua hơn mười tiếng đồng hồ bôn ba trên đường, đến lúc hoàng hôn buông xuống, hắn cuối cùng cũng đặt chân lên mảnh đất quê hương.
Quê hắn mang một cái tên rất cổ, Trần Bài Phường. Không ai còn nhớ cái tên ấy có từ đời nào, chỉ biết rằng nơi đây từng sinh ra một nữ trinh liệt họ Trần, vì giữ tiết mà tuẫn tiết. Dân làng cảm phục, lấy tên cô đặt cho thôn, truyền từ đời này sang đời khác.
Cảnh vật quê nhà trong ký ức Diệp Tri Thu so với hiện tại chẳng khác là bao. Có chăng, con đường đất năm xưa nay đã được đổ bê tông, hai bên nhà cửa mọc thêm vài tầng, mang ít nhiều dáng dấp hiện đại.
Điều thay đổi rõ ràng nhất lại là các cô gái trong làng.
Quần áo ngày một ngắn, thân hình ngày càng nóng bỏng. Mỗi lần lướt mắt qua là một lần khiến người ta thấy xuân tâm nhộn nhạo, khác xa đám con gái thô kệch, chân lấm tay bùn trong ký ức thuở bé.
Men theo con đường xi măng, rẽ ngoặt về phía Nam, đi thêm nửa dặm là tới đầu làng Trần Bài Phường.
Tận cùng phía Tây thôn có một căn nhà ngói ba gian cũ kỹ, đứng lẻ loi giữa khoảng đất trống, đó là nhà cũ của Diệp Tri Thu.
Lúc này, trời đã nhá nhem. Ánh chiều tà cuối ngày phủ lên mái ngói rêu phong, khiến căn nhà vốn đã cũ càng thêm tiêu điều, vắng lạnh.
Diệp Tri Thu khẽ thở dài một tiếng, nhấc chân bước về phía đó, nhưng không rẽ vào.
Thay vào đó, hắn lặng lẽ men theo con đường nhỏ dẫn ra phía sau thôn, nơi cánh đồng ngô bạt ngàn bắt đầu đổ bóng hoàng hôn.
Chui vào giữa rặng ngô cao ngang đầu người, Diệp Tri Thu tìm một chỗ khuất, lặng lẽ ngồi xuống. Gió đồng lùa qua, mùi đất, mùi thân ngô non ngai ngái thấm vào từng hơi thở. Hắn không nói gì, chỉ để mặc những ký ức xưa cũ lặng lẽ ùa về, từng đợt, từng đợt như sóng vỗ trong tim.
Mãi đến khi trời tối đen như mực, hắn mới chui ra khỏi ruộng, lặng lẽ quay bước trở về nhà.
Căn nhà không sáng đèn, cũng không một tiếng động. Ngay cả tiếng chó sủa cũng vắng bặt, im ắng đến rợn người.
Diệp Tri Thu biết, ông nội hắn giờ sống một mình. Giờ này chắc đã đi ngủ từ lâu.
Hắn không gọi cửa. Thay vào đó hắn đi vòng ra mé tây tường rào, nhẹ nhàng trèo vào sân sau. Trong góc vườn cũ kỹ, dưới tàn cây vυ" sữa, hắn tìm thấy một cái xẻng gỉ sét, rồi lại men theo đường cũ quay ngược ra hướng đồng ruộng phía trước thôn.
Ở phía Nam nhà hắn, qua một cái hồ nhỏ, cách chừng một dặm, có một nấm mộ đơn độc nằm lẻ loi giữa bãi đất trống.
Đó là mộ của một cô gái trong thôn.
Tên cô là Đàm Tư Mai.
Mười năm trước, Đàm Tư Mai mười tám tuổi. Cô uống thuốc độc tự vẫn, chết ngay trước cửa nhà Diệp Tri Thu, một cái chết khiến cả thôn xôn xao, rồi dần bị lãng quên theo năm tháng.
Đêm nay, Diệp Tri Thu đứng lặng trước ngôi mộ cũ, dáng người gầy gò đổ bóng dài dưới ánh trăng mờ đυ.c. Hắn vỗ tay ba cái, vái một vái thật sâu, rồi chậm rãi cất tiếng, giọng trầm như từ trong đất vọng lên: “Tư Mai, năm xưa chị chết không rõ ràng, trong lòng mang nặng oán hận, hóa thành oan hồn phiêu dạt chốn nhân gian, không chịu siêu sinh. Chị quấy nhiễu tôi suốt một thời gian dài, ép tôi phải bỏ quê, lên Mao Sơn tịnh tu tránh họa, sống lủi thủi suốt mười năm trời.”
“Hôm nay tôi đã trở lại. Tôi sẽ giúp chị giải oán, trả hết những gì còn dang dở, có oan báo oan, có thù báo thù.”
Nói dứt lời, Diệp Tri Thu không chần chừ, cầm xẻng bắt đầu đào mộ.
Vừa xúc được ba nhát đất, từ dưới lòng huyệt bỗng vang lên một tràng cười lanh lảnh giọng nữ, trong trẻo mà ghê rợn, từng tiếng vang rõ mồn một giữa cánh đồng hoang vắng: “Ha ha… ha ha… ha ha ha ha…”
Tiếng cười vọng lên từ dưới đất, không nhanh, không chậm, như đang dạo chơi giữa ranh giới âm dương.
Cùng lúc đó, một luồng gió lạnh từ lòng đất đột ngột bốc lên, xoáy quanh mộ, cuộn thành từng vòng rít rít rợn người. Lá cỏ bay lả tả, thân ngô nghiêng ngả, xào xạc như có ai vừa lướt qua sát mặt đất.
Diệp Tri Thu dừng tay, nghiêng đầu lắng nghe, rồi chép miệng lẩm bẩm: “Tư Mai à, chị thành ma mười năm rồi, chắc cũng chưa biết thiên hạ bây giờ đổi khác ra sao. Bên ngoài, không ai còn ‘ha ha’ nữa đâu. Tôi mới nhắn một tin ‘ha ha’ cho một em xinh xinh trên mạng, cô ấy chặn tôi liền.”
“Ha ha… ha ha… ha ha ha ha…”
Tiếng cười vẫn không dứt, vang đều đều như cố tình khıêυ khí©h.
Diệp Tri Thu nheo mắt, lẩm bẩm: “Thích cười hả? Rồi, lát nữa đào xong, cho chị cười tới sáng luôn.”
Dứt lời, hắn lại cúi xuống, tiếp tục xúc đất.
Mộ chôn đã mười năm, đất nện chặt như đá, lại dính rễ cây chằng chịt nên đào cực kỳ vất vả. Nhưng Diệp Tri Thu thân thể dẻo dai, chân khí vững, chẳng mấy chốc đã làm được bảy tám phần. Lớp đất phía trên dần bị lật tung, từng mảng rêu phong, cỏ dại, đá vụn lăn lóc hai bên miệng huyệt.
Trong suốt quá trình ấy, tiếng cười dưới mộ vẫn văng vẳng như ru hồn, khi gần khi xa, lúc ríu rít, khi như gằn lên tức tưởi. Không ai biết đó là oán khí, ma âm… hay chỉ là một trò đùa lạnh gáy của kẻ chết chưa yên.
Ánh mắt Diệp Tri Thu hơi chùng xuống.
Ở quê hắn có một lệ xưa, người chết già, mất tại nhà, được coi là trọn vẹn, sẽ dùng quan tài sơn đỏ để đưa tiễn.
Còn như Đàm Tư Mai chết trẻ, lại chết bất đắc kỳ tử, thì chỉ có thể dùng loại ván gỗ mộc, không sơn, không chạm trổ, đơn sơ lạnh lẽo như cái chết của chính mình.
Khi quan tài hiện ra hoàn toàn, tiếng cười ghê rợn kia đột ngột dứt hẳn.
Gió lạnh cũng ngưng bặt.
Không gian chìm vào một khoảng tĩnh lặng rợn người, thứ im lặng dày đặc như có thứ gì đang nín thở chờ đợi.
Diệp Tri Thu đảo mắt nhìn quanh cánh đồng một lượt, rồi cúi người, lấy ra một cây xà beng nhỏ, nhét vào khe giữa nắp và thân quan tài.
Hắn cẩn thận nạy từng chút một.
Quan tài đã mười năm, gỗ ván mục phần nào, tuy không quá chắc chắn nhưng vẫn cần sức.
Hắn đổi sang vài điểm khác, cạy thêm vài lượt, cuối cùng cũng khiến nắp quan tài bắt đầu lỏng ra.
Diệp Tri Thu khẽ gật đầu, thì thầm như nhắc mình: “Sư phụ từng dặn, mở quan tài phải nạy từ đầu nhỏ. Nạy từ đầu to, lỡ gặp cương thi, nó phun một hơi vào mặt thì toi mạng.”
Nói rồi, hắn gác xẻng sang một bên, đi vòng ra phía đuôi quan tài, hít sâu một hơi, cắn răng dốc sức bẩy mạnh.
“Kẽo kẹt!”
Một tiếng rít dài lướt qua đêm tối.
Nắp quan tài bật tung, rơi sang một bên, va vào đá kêu lạch cạch, âm thanh vang vọng lạ thường giữa đồng vắng.
Diệp Tri Thu đứng yên vài giây, rồi chậm rãi cúi người, dòm vào trong.
Chỉ mới liếc một cái, sắc mặt hắn lập tức thay đổi. Hắn lùi lại nửa bước, mắt trợn lên, miệng há ra suýt chửi thề nhưng kịp ngăn lại, chỉ khẽ niệm: “Tội lỗi, tội lỗi…”
“Không trách Tư Mai hóa thành lệ quỷ, đến giờ vẫn chưa siêu thoát. Trong quan tài này đúng là có vấn đề. Chết mà còn bị nhốt oán khí lại thế này, bảo sao không rời đi nổi.”