Chương 7: Manh nhân mạc tượng

Tôi cố nén đi kích động trong lòng, dành cả nửa buổi chiều để xem lướt qua "Bổ Di" này theo phong cách cưỡi ngựa xem hoa. Vì nó được gọi là "Bổ Di", cho nên bên trong có rất nhiều chỗ chỉ ghi chép phương pháp bổ sung và sửa đổi, nhưng lại không ghi chép rõ là sửa cho cái gì, thành ra nội dung cứ có cảm giác rời rạc, không đầu không đuôi, hại chết bao nhiêu tế bào não bộ của tôi.

Tuy nhiên, sau khi mò mẫm mãi thì tôi cũng hiểu được bảy tám phần nội dung trong này. Dựa vào một đoạn ghi chép: "Thừa Thánh Giáp Mậu, hạ sơ, quan tây giao phần tràng hiện thiển lam hỏa dứu chi khí, ngọ thì vãng chi, mịch vị quả. tử thì hựu vãng, hiện. dĩ huyền thủy khắc chi, nộ phản phệ, đoạn phất trần..." (tạm dịch là Thừa Thánh Giáp Mậu, đầu hạ, xem mộ địa phía tây thấy hiện khí Hỏa Dứu màu lam nhạt, giờ Ngọ đến tìm, không thấy. Giờ Tý lại đến, thấy. Dùng Huyền Thủy khắc chế, vì nộ mà phản phệ, đứt cây phất trần...)

Dựa vào đoạn ghi chép này, tôi liền phân tích ra được người viết trang giấy này hẳn là một đạo sĩ thời Nam Bắc triều. "Thừa Thánh" là niên hiệu của Lương Nguyên Đế, còn "phất trần" thì chắc chắn không phải đồ nghề của đám hòa thượng trọc đầu rồi.

Nội dung trên trang giấy này hẳn là phần bổ sung, đính chính cho một cuốn sách do sư phụ của người này viết, tên là "Ngũ Hành Quan Khí Thuật".

Từ những chi tiết vụn vặt cộng với khả năng suy luận "trác việt" của bản thân, tôi đã rút ra kết luận được rằng, tác giả của Bổ Di là một đạo sĩ chuyên quan khí, từ những gì ghi trên tờ giấy này là những sự kiện tiêu biểu hoặc những kiến giải cao minh mà người này ngộ ra trong quá trình tu đạo cùng kinh lịch.

Cái gọi là "quan khí" không chỉ đơn thuần giới hạn ở việc "nhìn", bởi vì ở trong này còn ghi chép rất nhiều phương pháp sửa đổi, thậm chí là đảo ngược dòng khí. Nếu chỉ xét riêng về việc quan khí, thì có thể phân chia nó làm năm loại hình cơ bản, hay nói đúng hơn là năm tầng thứ khác biệt.

Tầng thứ nhất cũng là cơ bản nhất là Huyết Khí, nôm na là phàm những thứ gì biết thở thì đều được quy vào loại tầng thứ này, phương pháp quan sát chỉ cần dùng mắt thường là có thể nhìn thấy được.

Tầng thứ hai gọi là Hồn Khí, bất cứ sinh vật nào từng sống, sau khi chết đi một quãng thời gian dài vẫn sẽ lưu lại hồn khí, tôi nghĩ cái gọi là "cảm hồn khí" này chắc thuộc thể loại phương pháp có thể nhìn thấy ma quỷ, đối với loại này, việc dùng mắt thường sẽ không thể nhìn thấy được mà phải dùng "cảm nhận", còn cảm nhận như thế nào thì trên này không ghi chép rõ.

Tầng thứ ba chính là Linh Khí, cái gọi là linh khí là chỉ động thực vật, thậm chí là đá trơ gỗ mục tồn tại lâu đời, vô tình hay cố ý hấp thu linh khí thiên địa, từ đó vô tình phát ra một loại khí tức đặc biệt có ảnh hưởng nhất định đến sự vật xung quanh. Ở giai đoạn này, "Bổ Di" có ghi lại một câu chuyện: "Ngô quan từ phi cung xuân khí ngoại tiết, linh mục tầm chi, địa hạ tam xích hiện âm thổ, đại như cơ. Di Côn Luân cửu dương tùng chế" Ta Tử Cảnh" tặng chi dĩ khắc âm thổ chi ngược. Nghịch âm dương, ngọa bán tái..."

Tôi tạm dịch ra được là: "Ta xem cung Từ Phi thấy xuân khí tiết ra ngoài, dùng linh mục tìm kiếm, thấy dưới đất ba thước có âm thổ, to như cái bàn nhỏ. Bèn lấy gỗ Tùng Cửu Dương ở Côn Luân chế tác thành "Ta Tử Cảnh" tặng cho, để khắc chế sự tàn ngược của âm thổ. Nghịch âm dương, nằm liệt nửa năm..."

Còn về những cấp độ cao hơn trong thuật quan khí như "tham thiên, ngộ địa", thì trong "Bổ Di" không ghi chép rõ ràng, chỉ dùng một câu để lướt qua: "Thiên địa chi khí, quan chi tổn dương, động chi chiết thọ, thận chi!"

Tạm dịch được là: "Khí trong thiên địa, nhìn thì tổn dương thọ, động vào thì giảm tuổi trời, phải cẩn trọng!"

Xem ra cái gọi là khí trong thiên địa này mà động vào thì cái giá phải trả không chỉ đơn giản là "nghịch âm dương, nằm liệt nửa năm" đâu.

Ngoài ra, tôi còn phát hiện ra độ khó trong việc quan sát hay hàng phục sự vật của vị đạo sĩ này thường tỷ lệ thuận với màu sắc khí tức mà sự vật đó phát ra, sau khi cố gắng tổng kết lại, tôi tạm phân chia khí từ thấp đến cao làm năm tầng thứ màu sắc khác nhau.

Bản nguyên, động thực vật bao gồm cả con người khi chưa tu luyện thì phát ra màu sắc vốn có của bản thân.

Ngân bạch sắc hay theo cách nói hiện tại là màu trắng bạc là loại sinh vật đã có chút đạo hạnh.

Hồng sắc hay màu đỏ, ý chỉ cao hơn một chút.

Lam sắc hay màu xanh lam, tu luyện đến trình độ nhất định sẽ phát ra khí có màu sắc dạng này. Màu lam cơ bản là một cái ngưỡng cực lớn, nếu như muốn vượt qua ngưỡng này, con người bắt buộc phải trải qua kiếp nạn, còn động thực vật thì phải độ kiếp.

Tử sắc hay màu tím, nếu may mắn thành công vượt qua được kiếp nạn, phía sau sẽ là hình thái như vậy, nghe đồn Thái Thượng Lão Quân chính là cảnh giới "tử khí đông lai", có lẽ chính là cảnh giới này.

Ngũ thải sắc hay là năm loại màu sắc, đây chính là cảnh giới cao nhất, nghe nói chỉ có mấy vị Bồ Tát và Phật Tổ bên Phật giáo mới có thể đạt đến. Mọi người chắc đều từng nhìn thấy tranh ảnh Phật hoặc Bồ Tát, phía sau lưng bọn họ thường có vầng hào quang ngũ sắc. Thực ra đó là hình ảnh dòng khí đã qua gia công nghệ thuật, còn tại sao lại nói nó là gia công nghệ thuật? Vì khí bao bọc toàn thân con người, nếu phát ra thì phải phát ra toàn thân chứ không chỉ mỗi cái đầu.

Chớp mắt đã đến giờ cơm tối, tôi liền đi xuống nhà ăn ăn đại cho xong bữa. Lão trưởng ban cấp dưỡng cứ dùng cái giọng phổ thông pha lẫn tiếng địa phương Tứ Xuyên trứ danh lải nhải mãi về việc ai đã lấy trộm can dầu ăn của lão, tôi ngồi ở một góc giả câm giả điếc, cắm mặt lùa vội mấy miếng cơm rồi chuồn thẳng về phòng.

Lần nữa lôi tờ giấy da kia ra, tôi lại bắt đầu dùi mài kinh sử, cố gắng sắp xếp lại thông tin. Đáng tiếc là cho dù tôi có tham khảo đối chiếu kiểu gì đi chăng nữa thì cũng không thể nhìn thấu toàn bộ diện mạo của nó, thành quả cả một ngày của tôi chỉ có thể xem là "bán bộ tụ khí pháp" và vài câu khẩu quyết tàn khuyết.

Tụ khí pháp hay pháp môn tụ khí, đúng như tên gọi, chính là pháp môn hấp thu và ngưng tụ khí từ bên ngoài để "chiếm" làm của riêng. Nói nôm na thì đây là cơ sở của quan khí thuật, đóng vai trò cực lớn trong toàn bộ quá trình. Tôi phát hiện ra việc quan khí cũng chẳng phải là sự tình nhẹ nhàng gì, trong "Bổ Di" này, những từ ngữ kiểu như "mù mắt ba ngày", "nằm liệt nửa năm" đã xuất hiện đến mấy lần. Do đó tôi phán đoán, nếu khí thu nạp được đã dùng hết mà còn cố tình cưỡng ép ngự khí (điều khiển khí) thì sẽ gây tổn thương đến nguyên khí của bản thân.

Tôi liền nhét tờ giấy da xuống dưới đệm giường, nhắm mắt lại định cho cái đầu đang căng như dây đàn của mình nghỉ ngơi một chút, ai ngờ mơ màng thế nào lại ngủ thϊếp đi mất.

Do đơn vị của tôi đóng quân trong rừng sâu, nên cứ hễ đến khi trời tối là một loại muỗi to vằn đen trắng sẽ đúng giờ "ghé thăm" khu ký túc xá, vì thế nên mọi ngày nếu như có ai không mắc màn thì đừng hòng ngủ được. Thế nhưng kỳ lạ là đêm hôm đó, tôi chỉ mặc nguyên áo cộc quần đùi ngủ chỏng chơ cả đêm, thế mà trên người lại chẳng hề có lấy một vết muỗi đốt nào.