Lễ bộ Thượng thư Cung Dật Bân nói:
“Cao đại nhân thì vẫn chưa được. Vụ án mạng ở Kinh thành còn treo đó chưa phá xong, ý của bệ hạ là công hay tội sẽ trông vào kết quả chuyến sai phái lần này của Cao đại nhân. Hơn nữa, vụ việc này Đô Sát Viện theo dõi rất chặt, án không thể sơ suất dù chỉ nửa phần. À đúng rồi, ngoài ra còn phái cả một vị Đô cấp sự trung của Hình khoa đi cùng giám sát, nghe nói...”
Nói tới đây, nét cười lại hiện lên trên gương mặt các vị các lão. Trịnh Quan Hạc lấy làm lạ hỏi:
“Nghe nói thế nào?”
Cung Dật Bân bán cái mũ quan, rồi nói:
“Vị Đô cấp sự trung Hình khoa mới điều tới ấy đã tát Cao Duật một cái! Còn nữa... Hắn còn cướp cả nữ nhân của Tiêu Ân Thời.”
Các vị các thần ngày thường vốn nghiêm trang nghe đến chuyện bát quái của đồng liêu thì lập tức rôm rả hẳn lên:
“Lại có chuyện như thế sao?”
Cung Dật Bân nói: “Vị Đô cấp sự trung Hình khoa ấy tên là Phong Đàn, chuyện này không giả được. Nghé mới sinh không sợ cọp, quả thật đáng sợ.”
Nhạc Ngọc Đạt tò mò hỏi: “Cướp nữ nhân của Tiêu Ân Thời, hắn vẫn bình an chứ?”
Cung Dật Bân đáp: “Bình an, bình an lắm! Vị quan ngoại tỉnh mới nhậm chức này quả thực có chút thủ đoạn trong người.”
“Được rồi, đừng có lôi đông kéo tây nữa.” Trịnh Quan Hạc thu lại thần sắc, nghiêm giọng nói:
“Hôm nay chư vị các lão đều có mặt ở đây, ta không thể không nhắc vài lời. Ta biết trong các vị có người thuộc phe Cảnh vương, có người thuộc phe Sở vương, nhưng quan là gốc của trị quốc, đã ở vị trí ấy thì phải vì bách tính làm việc, chớ vì đảng tranh mà hại dân.”
Trịnh Quan Hạc thuộc phái Thanh lưu, cách làm người xử thế của ông xưa nay vẫn khiến chư quan khâm phục. Các vị các thần chỉnh y hành lễ, lần lượt trở về phòng trực của mình.
Nội các đấu đá dữ dội; khi Trịnh Quan Hạc không có mặt, các thần vì một việc thường mắng nhau tóe bọt mép, chẳng còn chút phong độ “quân tử động khẩu không động thủ” của Nho gia, thậm chí tay không đánh nhau cũng chẳng hiếm. Hôm nay nội viện Nội các lại yên tĩnh khác thường, thái giám trong Thái Cực điện phụng chiếu đến thấy vậy thì thở phào, vén tấm rèm đông dày nặng, vào hành lễ vấn an Trịnh Quan Hạc.
Trong cung, thái giám tôn xưng các vị các thần là “lão tiên sinh”. Một tiểu thái giám cung kính nói:
“Trịnh lão tiên sinh, bệ hạ truyền chỉ triệu ngài cùng Cung lão tiên sinh vào Thái Cực điện nghị bàn triều sự.”
Nghe vậy, Trịnh Quan Hạc vội bước về phía Thái Cực điện.
Thái Cực điện là nơi hoàng đế xử lý chính vụ. Giờ Tỵ vừa qua, ánh mặt trời phía đông chiếu rọi cung điện nguy nga tráng lệ, rắc xuống trước cửa điện một mảng ánh vàng rực rỡ. Thái giám giữ điện mặc áo dạ xanh sẫm thêu rắn nhỏ, hai tay giấu trong tay áo tránh rét, thấy hai vị Thượng thư đến liền vội mở cửa điện, nghênh hai vị vào trong.
Trong điện vì đốt địa long nên giữa ngày đông giá rét lại ấm áp khác thường. Sùng Minh Đế ngồi cao trước án, nghe động tĩnh liền ngẩng đầu khỏi quyển trục, nói:
“Bình thân đi, khỏi cần lời thừa. Sáng sớm Văn Thư Phòng đã trình tấu chương của Ngư Phương Nghị, việc biên quân đại thắng trẫm đã biết. Hôm nay trẫm muốn hỏi là chuyện Hoa quốc phái công chúa tới hòa thân.”
Trịnh Quan Hạc đáp: “Thần chưa từng nghe việc này.”
Sùng Minh Đế nhìn sang thái giám Chưởng ấn Ty Lễ Giám Thịnh Hồng Hải đứng hầu bên cạnh. Thịnh Hồng Hải không ngẩng đầu, chăm chú nghiên mực, nói gọn gàng:
“Biên quân Đại Hoàng đã chiếm được Tứ Lục Châu của Hoa quốc. Hoa quốc có ý phái sứ thần tới nghị hòa, gả công chúa vào triều ta để đổi lại đất biên thùy, tu sửa giao hảo giữa hai nước.”
Trịnh Quan Hạc cùng Cung Dật Bân liếc nhìn nhau, trầm mặc chốc lát rồi Trịnh Quan Hạc nói:
“Vừa rồi vi thần đã cùng chư vị các thần tính toán chi tiêu năm nay của triều ta, ngân khố không còn nhiều. Nay quân ta đại thắng, nếu hai bên lại khai chiến thì e rằng quân ta khó có hậu lực. Theo ý lão thần, nghị hòa cũng chưa hẳn là không được, chỉ là cho dù Hoa quốc phái công chúa tới hòa thân thì cũng tuyệt đối không thể hoàn trả Tứ Lục Châu.”
Sùng Minh Đế gần bốn mươi tuổi, mười bảy đăng cơ, trị vì thiên hạ đã hai mươi năm, giỏi dùng thuật đế vương để ràng buộc lòng người. Đợi Trịnh Quan Hạc nói xong, ông mới chậm rãi nói:
“Lời các lão nói đúng ý trẫm. Vậy khoản thâm hụt ngân khố bù thế nào? Việc hòa thân, có đáp ứng hay không?”
Liên tiếp ném ra hai câu hỏi, Trịnh Quan Hạc ung dung đối đáp: “Việc ngân khố thâm hụt Nội các vừa rồi đã bàn ra phương án giải quyết, lát nữa sẽ tâu lên bệ hạ. Còn chuyện công chúa Hoa quốc đến hòa thân, bệ hạ đang độ tráng niên, nghênh thú công chúa có thể giữ yên biên cương mấy chục năm, vì thế cũng chưa hẳn là không thể.”
“Nghênh thú?” Sùng Minh Đế bật cười, trong giọng mang theo chút châm biếm: “Đó là lễ nghi dành cho Hoàng hậu, trẫm chỉ có một Hoàng hậu. Công chúa Hoa quốc chỉ có thể làm thϊếp. Thôi vậy, đợi sứ thần Hoa quốc đến rồi hãy đàm phán.”
Trịnh Quan Hạc nói: “Bệ hạ nhớ tình cũ thật là điều tốt.”
Ánh mắt Sùng Minh Đế thoáng buồn, ngâm rằng:
“Thỏ trắng cô độc, đông chạy tây trông;
Người chẳng bằng mới, áo chẳng bằng xưa.”*
***
Chú giải:
(1) Bài thơ này được chép sớm nhất trong "Thái Bình Ngự Lãm" quyển 689, đề là "Cổ Diễm Ca", không ghi tên tác giả. Trong các tuyển bản đời Minh, Thanh thường gán cho vợ của Đậu Huyền, với nhan đề "Cổ Oán Ca".
Tuy nhiên, "Nghệ Văn Loại Tụ" quyển 30 chỉ ghi lại sự việc liên quan đến vợ Đậu Huyền như sau: đời Hậu Hãn dụng mạo đẹp đẽ, vua gả công chúa cho, vợ cũ viết thư cho Huyền từ biệt bằng một bài thơ có hai câu:
"Y bất yếm tân, nhân bất yếm cố"
Trong ghi chép này không hề nói người vợ Đậu Huyền sáng tác bài thơ ấy, vì vậy nay vẫn theo "Thái Bình Ngự Lãm" xem bài thơ là tác phẩm vô danh.
Bài thơ thuộc loại thơ bỏ vợ (khí phụ thi).
Hai câu đầu dùng hình tượng thỏ trắng cô độc, chạy đông ngoái tây để ví bản thân bị ruồng bỏ nhưng vẫn quyến luyến người xưa.
Hai câu sau là lời khuyên nhủ người cũ nên nhớ nghĩa tình xưa.