Chương 26

Từ khi Vĩnh Lạc công chúa bị hoàng hậu bí mật đưa ra khỏi cung, suốt tám năm nay Sùng Minh Đế chưa từng thượng triều. Việc chính trong triều phần lớn đều do các phụ thần trong nội các xử lý, họ soạn tấu nghị xong mới trình lên để hoàng đế phê duyệt. Như vậy, dù hoàng đế không thượng triều nhưng quyền lực cũng không rơi vào tay ai khác.

Nội các nằm ở góc đông nam trong Ngọ môn hoàng thành, gồm ba tòa điện. Phía đông là phòng soạn cáo sắc, phía tây là phòng soạn chế chiếu, ở giữa là đại điện nơi các các đại thần bàn bạc quốc sự, mái cong tầng tầng, khí thế uy nghi.

Người giữ cửa từ từ đẩy cửa gỗ sơn son, một thái giám áo lam hấp tấp chạy vào, cao giọng:

“Cấp báo tám trăm dặm từ Lâm Chương!”

Bên ngoài bức thư mật được đóng ấn quan phòng và niêm phong sáp đỏ. Được đem đến phòng trực của nội các, mấy vị các thần lập tức buông bút, vây lại xem.

Thủ phụ Nội các Trịnh Quan Hạc khí độ trầm ổn, năm nay đã bảy mươi tư tuổi. Ông để một chòm râu dài, vẻ mặt uy nghiêm. Mở phong thư xem hết rồi nói:

“Biên quan đại thắng! Đại Đô đốc Ngư Phương Nghị đại phá Hoa quốc, không chỉ đoạt lại hải vực Lâm Chương mà còn chiếm được Tứ Lục Châu của Hoa quốc!”

Các phụ thần Công bộ thượng thư Tô Đức Xương, Hộ bộ thượng thư Nhạc Ngọc Đạt, Lễ bộ thượng thư Cung Dật Bân, Lễ bộ Hữu thị lang Ngưỡng Ích Xuyên, Lại bộ Tả thị lang Vu Nghiêm Hàm nghe vậy đều mừng rỡ, đây hẳn là tin vui nhất năm.

Biên cảnh Đại Hoàng nhiều lần bị Hoa quốc tập kích, chúng từ lâu đã thèm khát châu báu ở hải vực Lâm Chương. Hai tháng trước chúng cướp đảo, gϊếŧ hại vô số quân dân, trên đảo khói lửa ngút trời. Khi tin truyền về Đại Hoàng, Sùng Minh Đế nổi giận, lập tức phái Đại Đô đốc Ngư Phương Nghị cùng nhi tử là Ngư Chấn Vũ dẫn quân chinh phạt.

Trịnh Quan Hạc khép lại cấp báo tám trăm dặm, chân mày vẫn nhíu chặt không giãn ra. Ông là thủ phụ Nội các kiêm Lại bộ Thượng thư, trọng trách nặng nề chưa từng dám lơi lỏng:

“Các vị đều là trọng thần cầm kiếm mang giáp, lúc nào cũng phải cẩn trọng suy xét. Một trận Lâm Chương tuy đại thắng nhưng hai tháng nay quân phí tiêu hao nặng nề, quốc khố trống rỗng không còn ngân lượng, chiến sự sau này khó mà duy trì, không thể tiếp tục tấn công nữa.”

Ông thở dài: “Quân lương tuyệt đối không được bớt xén. Năm mới sắp đến, theo quy chế, trong cung lại cần một khoản bạc rất lớn. Vậy bạc này lấy từ đâu? Nhạc đại nhân, ông nói xem.”

Hộ bộ Thượng thư Nhạc Ngọc Đạt trong lòng thấp thỏm, suy nghĩ một hồi rồi nói: “Nguyên phụ, nay thiên hạ thái bình, chẳng bằng tăng thêm chút thuế vụ...”

“Hoang đường!” Lửa giận bốc lên, Trịnh Quan Hạc vung mạnh tập công văn ném thẳng vào mặt Nhạc Ngọc Đạt, râu tóc dựng cả lên, trừng mắt quát:

“Còn muốn tăng thuế? Bổng lộc của ngươi và ta đều lấy từ máu xương của dân chúng mà ra, không biết vì bách tính cầu phúc thì thôi, còn muốn thi hành chính sách hà khắc, làm kẻ tàn bạo để vừa lòng thánh ý, ngươi cho rằng dân chúng thật sự không làm phản sao!”

Nhạc Ngọc Đạt chưa từng thấy Thủ phụ nổi trận lôi đình như thế, vừa rồi cũng là nhất thời hồ đồ mới nói ra lời ngu xuẩn kia, vội vàng phân bua:

“Hạ quan nhất thời lỡ lời, xin Nguyên phụ bớt giận! Nhưng biên quan đại thắng cũng tiêu tốn của quốc khố mấy trăm vạn lượng bạc, chẳng bằng dâng lời khuyên lên Bệ hạ, thu hẹp chút chi dùng trong cung dịp cuối năm...”

Trịnh Quan Hạc lúc này mới hơi giãn nét mặt: “Được, chuyện này giao cho ngươi làm.”

Nhạc Ngọc Đạt khổ không nói nên lời, chỉ đành khom người đáp vâng.

Công bộ Thượng thư Tô Đức Xương là Thứ phụ của Nội các, tự là Vinh Vị. Khác với sự liêm khiết nghiêm trực không sứt mẻ của Trịnh Quan Hạc, ông lăn lộn trong vòng xoáy chính trị kinh thành hơn ba mươi năm, trơn tru lão luyện, gặp việc thì nhẫn nhịn, vốn nổi danh “một chiếc lá cũng không dính thân”. Ngoài ra, thứ giúp ông đứng vững trong hàng ngũ nhị phẩm đại thần còn là những mưu lược trị quốc kinh thiên vĩ địa trong bụng ông.

Quả nhiên, Trịnh Quan Hạc lại nói với Tô Đức Xương: “Vinh Vị, đầu năm ấn định dự toán chi tiêu là 4590 vạn lượng bạc, đến cuối năm thu thuế là 5215 vạn lượng, mà chi tiêu lại vượt dự toán 800 vạn lượng. Khoản thâm hụt lớn như vậy... Hộ bộ tính rồi, nói rằng chỗ thiếu hụt đều nằm trên sổ của Công bộ và Binh bộ. Ngươi nói xem 800 vạn lượng ấy dùng vào việc gì? Vì sao lại vượt dự toán nhiều như vậy!”

Tô Đức Xương đáp: “Nói ra đều là chuyện bất đắc dĩ. Tháng năm ba huyện vỡ đê, tu sửa đê điều đã tiêu tốn 300 vạn lượng bạc, còn Binh bộ vì tác chiến trên biển với Hoa quốc, thuyền chiến cùng binh khí tiêu hao hơn trăm vạn lượng.”

Trịnh Quan Hạc nghe vậy thì càng thêm lo âu căng thẳng: “Thu không đủ chi, chung quy là không ổn.”

Lúc này Tô Đức Xương mới nói: “Nay quân Hoa quốc đã bại lui, chúng ta có thể dùng thuyền chiến chở tơ lụa, trân ngọc, châu báu cùng mọi loại phẩm vật tinh xảo trong nước sang nước ngoài, tăng cường giao thương. Như vậy sang năm có thể bù lại 800 vạn lượng.”

“Được, được, được.” Trịnh Quan Hạc giãn mày giãn mặt, nói: “Bách quan dùng nhân nghĩa trị đời thì quốc gia thuận hòa. Nội các là trọng trấn của triều đình, sáu người chúng ta đều là lão thần trong các, phải làm việc thực cho triều đình. Đúng rồi, Hình bộ Cao Duật đã có tư cách nhập các chưa?”

Việc tuyển chọn người vào Nội các cực kì nghiêm ngặt. Đường tiến vào Nội các chủ yếu có hai cách:

Một là phụng đặc chỉ, tức Hoàng đế đích thân chỉ định.

Hai là đình suy, do Lại bộ cùng các đại thần tam phẩm trở lên và quan Khoa đạo đề cử vài người, rồi Hoàng đế chọn một người vào Nội các.

Ngoài ra, còn có một điều lệ ngầm: người vào Nội các tất phải là tam phẩm trở lên, không phải Hàn lâm thì không vào Nội các.

Mà trước câu “không phải Hàn lâm không vào Nội các” còn có câu “không phải tiến sĩ không vào Hàn lâm”, nghĩa là người vào Nội các nhất định phải xuất thân tiến sĩ. Cao Duật không phù hợp điều này, vậy nên ông ta chỉ có thể đi con đường còn lại: được Hoàng đế đích thân chỉ định vào Nội các.