Chương 49

Lục Tuyệt rót một ly nước rồi cầm lên, Quản Ninh vừa ngẩng đầu thì ly nước đó đã đặt ngay trước mặt Du Đinh một cách tự nhiên.

Quản Ninh chán nản cực độ, miệng lẩm bẩm không ngừng, nhưng Lục Tuyệt không để ý đến cậu ta. Anh lại mở nắp trà sữa, đổ nước đá vào.

Đồng tử Quản Ninh run lên vì sốc, trơ mắt nhìn Lục Tuyệt cầm ly trà sữa pha nước uống một hơi cạn sạch.

Lần trước về nước, cậu ta đã cẩn thận chọn một chiếc mũ bóng chày tặng Lục Tuyệt, chỉ vì bên ngoài hộp buộc một dải ruy băng nhung hồng, mà Lục Tuyệt thậm chí còn không thèm mở.

Lúc đó, cứ tưởng Lục Tuyệt thật sự không thích màu hồng, cậu ta còn tức giận vứt dải ruy băng hồng đó vào máy hủy giấy.

Quản Ninh không nhịn được nữa: “Anh, không phải anh không thích màu hồng sao?”

Đúng lúc này một nhân viên phục vụ khác đến muốn giúp nướng thịt, Lục Tuyệt cầm lấy kẹp: “Chúng tôi tự nướng được.”

Nhân viên phục vụ rời đi, Lục Tuyệt gắp ba chỉ trước, rồi gắp lưỡi bò phủ đầy vỉ nướng.

Anh mới thản nhiên đáp: “Bây giờ thì thích rồi.”

Lục Viêm đang rót nước chấm, anh ấy còn gọi thêm một cái bát nhỏ, chỉ rót nước chấm nguyên vị.

Lục Tuyệt thao tác dứt khoát, hoàn toàn không giống người lần đầu nướng thịt. Lưỡi bò, mấy giây sau đã được gắp lên đặt vào đĩa của Du Đinh, rồi anh lại gắp một miếng lưỡi bò khác bỏ vào đĩa của Lục Viêm: “Thành Đô chủ yếu là cay, cậu làm sao mà ăn được.”

Thành Đô nằm ở phía Tây Nam, cách Bắc Kinh xa tít tắp, khẩu vị cũng hoàn toàn khác biệt, chủ yếu là cay.

Lục Viêm nhìn miếng lưỡi bò đã nướng chín, không nói gì mà “chậc” một tiếng trước sự “quan tâm chu đáo” của Lục Tuyệt: “Làm sao thì làm, miễn là không chết được.”

Lục Tuyệt liếc qua cổ tay Lục Viêm. Lục Viêm trước nay không đeo trang sức, từ mẫu giáo đến giờ, trên người Lục Viêm chỉ có những vết thương do đánh nhau để lại. Hôm nay anh lại đeo một chuỗi hạt gỗ mun màu đen, trên hạt có vân vàng.

Anh rụt tay về, lưỡi bò chín liên tục. Dưới ánh mắt mong chờ của Quản Ninh, anh gắp liền mấy miếng lưỡi bò đặt vào đĩa Du Đinh, tiện miệng nói một câu: “Lục Viêm sẽ đi quân đội ở Thành Đô.”

Du Đinh và Lục Viêm không thân, nhưng tiện lời, cậu lịch sự hỏi một câu: “Đi lính à?”

Lục Viêm đáp: “Đi lính mấy năm rồi thi vào trường cảnh sát.”

Du Đinh gật đầu. Cậu ít khi hẹn ăn cơm với ai, nhưng không có nghĩa là cậu không biết giao tiếp với người khác, ngược lại, cậu rất giỏi nói chuyện, chủ động nói về đặc sản Thành Đô.

Chẳng hạn như Thành Đô không chỉ có cay tê, mà còn có rất nhiều món ngon hợp khẩu vị người miền Bắc.

Cậu nói với tốc độ vừa phải, giọng nói trong trẻo dễ chịu. Lục Tuyệt còn nghe kỹ hơn cả Lục Viêm, vừa nướng thịt vừa nghiêng đầu hỏi: “Cậu thích Thành Đô à?”

“Từng đi một lần.” Ký ức năm bốn tuổi luôn rất mơ hồ, nhưng vị ngọt của chuyến đi Thành Đô năm đó thì vẫn rõ ràng.

Món tráng miệng đó gọi là bánh trôi lạnh, rưới lên một lớp si rô đường đỏ dày, múc một muỗng, cái nóng nực của mùa hè cũng trở nên thật ngọt ngào.

“Hay là ăn xong tôi đưa cậu ấy đi Thành Đô luôn.” Lục Tuyệt nửa đùa nửa thật nói: “Cậu ấy đi máy bay riêng, thêm hai người cũng không chiếm chỗ.”

Du Đinh còn chưa kịp mở lời, Lục Viêm đã đáp: “Thôi đi, ba tôi chỉ muốn tôi không chịu khổ được mà về nhà, ông ấy bắt tôi phải ngồi ghế cứng tàu hỏa cũ cơ.”