Buổi chiều, đoàn người Mộ gia đi ra ngoài. Bọn họ xuất phát khá sớm, nhưng đường phố quá náo nhiệt nên xe ngựa di chuyển rất chậm. Mãi đến chạng vạng, họ mới đến được hồ Thanh Huyền.
Khi vào phòng bao, mặt trời đã lặn, ánh trăng sáng vằng vặc treo cao trên bầu trời.
Mộ Thu đứng bên cửa sổ phóng tầm mắt ra giữa hồ.
Ở đó có mấy chiếc thuyền lớn xa hoa đang neo đậu, tiếng nhạc du dương vang vọng, đến cả những người trên bờ cũng có thể nghe thấy.
Có lẽ bậc cửu ngũ chí tôn của thiên hạ đã ở trên thuyền rồi.
Mọi người vẫn chưa ăn gì nên gọi một bàn thức ăn trong tửu lâu. Sau bữa tối, Mộ Vũ dẫn hai đệ đệ xuống phố dạo chơi.
Mộ đại phu nhân nhìn Mộ Thu đang ngồi cạnh, bà ấy mỉm cười nói: “Phòng bao bên cạnh là do Giản gia đặt trước. Ta và Giản phu nhân có quan hệ rất tốt, Thu Nhi, con đi cùng ta sang chào hỏi một tiếng.”
Bà ấy cảm thấy Giản Ngôn Chi là một đứa trẻ tốt, còn Giản phu nhân cũng rất hài lòng với Mộ Thu.
Hai nhà đều ngầm hiểu, ăn ý chọn phòng bao gần nhau, bọn họ muốn nhân cơ hội này để Mộ Thu và Giản Ngôn Chi làm quen, vun đắp tình cảm, sau này bàn chuyện hôn sự cũng thuận lợi hơn.
Mộ Thu đương nhiên không đoán được suy nghĩ của Mộ đại phu nhân, mà nàng cũng rất thích Giản phu nhân nên lập tức đứng dậy, dìu Mộ đại phu nhân bước ra ngoài.
Trong phòng bao bên cạnh, Giản phu nhân đang ngồi trên ghế gỗ lê, nhàn nhã dùng điểm tâm.
Giản Ngôn Chi dùng hai tay chống cằm, đầy mong chờ hỏi Giản phu nhân: “Mẹ, khi nào con mới được xuống phố chơi?”
Tiết hoa đăng náo nhiệt như vậy, ngồi mãi trong phòng bao có gì thú vị chứ.
Trước đó một thời gian, hắn ta phải tạm thời đảm nhiệm chức Đại Lý Tự khanh, một mình làm hai phần việc, mệt đến mức muốn gục ngã. Vất vả lắm mới đến Tết, hắn ta được nghỉ ngơi vài ngày, nhưng cha mẹ lại nói hắn ta đã trưởng thành, phải thay mặt gia đình tham gia đủ loại yến tiệc phiền phức. Tiệc rượu vừa xong, hắn ta lại phải quay về Đại Lý Tự làm việc.
Giản Ngôn Chi vô cùng tủi thân. Hiếm hoi lắm mới có cơ hội tận hưởng bầu không khí tự do của tiết hoa đăng, vậy mà mẫu thân lại không cho hắn ta đi.
Giản Ngôn Chi khóc không ra nước mắt.
Rõ ràng hắn ta đang mặc bộ trường bào màu vàng kim rực rỡ, nhưng trông lại tiều tụy như một con khổng tước bại trận.
Giản phu nhân vừa định mở miệng thì bên ngoài bỗng vang lên tiếng gõ cửa.
Bà ấy khẽ mỉm cười vỗ vai Giản Ngôn Chi rồi trừng mắt nói: “Khách của mẹ đến rồi, con thể hiện cho tốt vào. Nếu làm tốt, mẹ sẽ cho con đi.”
Nhìn hắn ta uể oải thế này, có cô nương nào nhìn mà thích cho được?
Không thể không nói, vẫn là mẹ hiểu con trai nhất. Giản Ngôn Chi vừa nghe vậy thì lập tức lấy lại tinh thần, hắn ta ngồi ngay ngắn lại, mở cây quạt gấp ra nghe “phạch” một tiếng, tao nhã phe phẩy trước ngực.
Giản phu nhân hài lòng, đích thân ra cửa đón khách.
Giản Ngôn Chi vừa nhìn thấy Mộ Thu bước vào thì lập tức “ồ” một tiếng, hắn ta không đợi mẹ mình giới thiệu đã vui vẻ cười nói: “Mộ nhị tiểu thư, thật là trùng hợp! Không ngờ lại gặp cô nương ở đây.” Nói rồi, hắn ta nhiệt tình chỉ vào chỗ bên cạnh mình: “Mau lại đây ngồi, ngồi bên này này.”
Mộ Thu đã quen với sự nhiệt tình của Giản Ngôn Chi, nàng thi lễ với Giản phu nhân rồi bước tới ngồi xuống cạnh hắn ta.
Giản phu nhân và Mộ đại phu nhân nhìn nhau cười đầy ẩn ý.
Không cần họ lên tiếng, hai người trẻ đã chủ động trò chuyện, thật là có duyên.
Chuyện này nói lên điều gì?
Là duyên trời định chứ sao nữa!
“Chúng ta đừng tỏ ra quá lộ liễu, cứ để bọn trẻ tự nhiên trò chuyện.”
“Ta cũng nghĩ vậy.”
Hai vị phu nhân ghé tai thì thầm, nhanh chóng đạt được thỏa thuận.
Giản Ngôn Chi hoàn toàn không biết mẫu thân đang suy tính gì, giờ phút này hắn ta đang kéo Mộ Thu… để nói về chuyện của Vệ Như Lưu.
Đúng vậy, chính là đang nói về Vệ Như Lưu.
“Hôm đó ta đến tìm hắn, cùng ăn một bữa cơm. Trước khi đi, ta bảo hắn gọi thuộc hạ tới dùng bữa cùng, nhưng hắn lại nói, thuộc hạ chỉ là thuộc hạ, không phải bạn bè, cũng chẳng phải người thân…”
Giản Ngôn Chi cảm thán. Mộ Thu khẽ động lòng, ngước mắt nhìn hắn ta: “Huynh đến tìm ngài ấy khi nào?”
“Mùng bảy Tết.”
Mộ Thu mím nhẹ môi.
Vệ Như Lưu đến tìm nàng vào ngày mùng tám, muốn nàng cùng hắn đi ăn một bát mì.
Không trách được hôm đó hắn nói, tìm nàng đi ăn mì chính là việc quan trọng.
Trong lòng hắn, nàng… cũng được xem là bạn của hắn sao?
Mộ Thu cảm thấy thật khó tin. Trước đây mỗi khi đối diện với hắn, nàng luôn tỏ rõ vẻ chán ghét và xa cách, vậy mà hắn vẫn xem nàng là bạn? Rốt cuộc Vệ Như Lưu thiếu bạn bè đến mức nào chứ?
Nàng không kìm được tò mò bèn hỏi:
“Trước đây ngài ấy chỉ có một mình huynh là bạn thôi sao?”
“Cũng không hẳn.” Giản Ngôn Chi nghiến răng nghiến lợi: “Nhưng những kẻ đó khi đứng giữa gia tộc và Vệ Như Lưu thì đều chọn gia tộc, bọn họ nhân cơ hội này đẩy hắn xuống vực thẳm, vậy nên cuối cùng chỉ còn lại mình ta.”
Chỉ còn lại mình hắn ta, dù hắn ta không hùa theo gia tộc hại Vệ Như Lưu, nhưng cũng chưa từng giúp Vệ Như Lưu được điều gì.
Nghĩ đến đây, tâm trạng Giản Ngôn Chi dần trầm xuống.
Mộ Thu cũng im lặng theo, một lúc lâu sau nàng mới hỏi: “Vậy huynh và ngài ấy quen nhau thế nào?”
Nhắc đến chuyện này, Giản Ngôn Chi lập tức phấn chấn hơn, vui vẻ nói: “Trước đây ta học chung với hắn. Dù nhà ta danh giá, nhưng trong kinh thành không thiếu người có xuất thân cao hơn ta.”
“Từ nhỏ ta đã thích mặc đồ màu vàng, bọn họ suốt ngày chê cười ta. Ta tức quá nên đã đứng trong sân đấu khẩu với họ, Vệ Như Lưu là người duy nhất lên tiếng giúp ta.”
“Ngài ấy đã nói gì vậy?” Mộ Thu tò mò hỏi tiếp.
Giản Ngôn Chi bật cười. Đã rất nhiều năm trôi qua, nhưng hắn ta vẫn nhớ rõ ràng vẻ mặt và giọng điệu của Vệ Như Lưu khi nói câu đó.
Người thiếu niên mặc trường bào lộng lẫy, tao nhã như cây ngọc trước hiên, che ô đứng bên cạnh hắn ta, lạnh nhạt nói với đám người kia: “Quân tử hòa nhi bất đồng (*). Ta chỉ từng thấy có kẻ công kích nhân phẩm người khác, đây là lần đầu tiên thấy cả đám người hợp sức chê bai thẩm mỹ của một người.”
Câu nói ấy khiến đám người kia lúng túng, bọn họ nhanh chóng xin lỗi rồi bỏ đi.
Chẳng mấy chốc, trong sân chỉ còn lại hai người.
Hắn ta còn chưa kịp cảm ơn, thì người kia đã quay lại, quan sát hắn ta từ trên xuống dưới, nghiêm túc đánh giá: “Nhưng mà… đúng là sặc sỡ thật.”
(*) Ý là người quân tử sống hòa thuận với mọi người nhưng không mù quáng chạy theo ý kiến của người khác.