Quảng Lăng Vương Nguyên Duệ con cháu đông đúc, trong vương cung không chỉ có một mình Nguyên Trinh là Càn Nguyên. Trưởng tử của Vương hậu Cao Ngọc – Nguyên Đảo vừa thông minh vừa cường tráng, đến cả Nguyên Duệ cũng từng vài lần có ý thay người thừa vị.
Thế nhưng đêm qua, khi Tiêu Trí Dung nhận được mật thư của Dương Dương huyện chủ, nàng chỉ do dự trong chớp mắt, rồi giữa muôn vàn vương tử quận chúa, vẫn kiên quyết chọn Nguyên Trinh.
Loạn thế, nàng mong được phò tá minh quân có tài thao lược, nhưng càng mong hơn một chủ nhân khoan hậu nhân từ. Nếu đêm qua Nguyên Trinh vì cứu cha cứu muội mà dao động, hoặc thể hiện chút dã tâm mưu nghịch, hoặc khăng khăng không đi Trường An, thì nàng đã sớm đổi chủ.
May thay, Nguyên Trinh vẫn như xưa nhân hậu mà quả cảm. Vì người thân, nàng quả thật đã chọn đi vào hang sói Trường An, dám dùng thân bệnh mệnh mỏng để đánh cược.
Trời vừa rạng sáng, mặt trời rực rỡ và vầng trăng nhợt nhạt cùng hiện nơi chân trời. Tiêu Trí Dung ngẩng đầu bất động, chắp tay mà khấn thầm với nhật nguyệt:
Nếu Nguyên Trinh thực là người mang thiên mệnh, xin cho nàng bình an trở về. Nếu nàng không có phúc phận ấy, xin để nàng chết bệnh nơi Trường An, chớ để nàng trở về, khiến ta ôm hy vọng mà một lòng một dạ đi theo, rồi cuối cùng vẫn không thể hoàn thành nghiệp bá.
Là bề tôi, Tiêu Trí Dung không muốn để lại tiếc nuối của kẻ “thất bại trong gang tấc”.
Lời khấn vừa dứt, trên trán nàng đã rịn mồ hôi lạnh. Nàng quay gót trở về trang viện, bỗng thấy ở trang bên kia có xe ngựa dừng lại. Trước cửa là xe có trang trí sắc màu của hoàng thất, Hoàn Tam Nương và Hoàn Đại Lang được người đỡ lên xe.
Sau khi người đã yên vị, xe chạy nhanh về phía Quảng Lăng vương cung.
Hôm nay trong cung không mở tiệc, Vương hậu đón hai huynh muội bọn họ làm gì?
*
Càng tới gần Trường An, lưu dân ăn mặc rách rưới càng nhiều.
Bọn họ gầy trơ xương, lang thang khắp nơi xin ăn, chỉ mong tìm được một nơi không có chiến sự để định cư.
Lưu dân hiếm khi chỉ đi lẻ một người, phần lớn là những đại tộc hoặc vài gia đình cùng đi. Đám lưu dân này nếu có vài nam nhân cường tráng mang theo nông cụ hay vũ khí tự chế, cũng đủ để cướp phá một trang viên nhỏ.
Vì thế, hào tộc phương Nam bị uy hϊếp nặng nề, đành phải tự chiêu mộ bộ khúc, xây dựng thành trì nhỏ gọi là “ngụ bộ” trong các điền trang, nhằm bảo vệ người và của.
Nguyên Trinh cùng đoàn người có tử sĩ thân thủ cao cường hộ tống, lại đi theo đường lớn có quan quân trấn giữ, ban ngày ẩn nấp, đêm tối mới hành quân, cho nên đến giờ vẫn chưa gặp phải lưu dân cướp bóc.
Nhưng những gì thấy được trên đường đã khiến tất cả im lặng.
Đất đai hoang hóa giữa tiết xuân, đồng ruộng không ai gieo cấy, xác đói khát chết cứng bên đường không đếm xuể, tất cả đều là hậu quả của chiến loạn triền miên.
Nhìn cảnh tiêu điều khắp nơi, đến cả Nguyên Trinh cũng không khỏi nghi hoặc: Chẳng lẽ khí vận của Đại Chu đã tận rồi sao?
Vận mệnh triều đại hưng suy ra sao, nàng chưa thể đo lường, nhưng thân thể của Nguyên Trinh thì quả thực đang ngày một khởi sắc điều này có thể thấy được bằng mắt thường.
Rõ ràng dược hoàn mang từ trong cung đã dùng hết, dọc đường cũng chẳng có y quán nào để bắt thêm thuốc, lại còn phải vất vả lên đường ngày đêm. Ăn uống thì kham khổ, toàn là bánh nướng khô, thịt khô dễ bảo quản, không có mật thủy mà nàng thường thích, cơm nước cứng ngắt, nuốt chẳng trôi.
Thế nhưng, Nguyên Trinh lại cảm thấy tảng đá đè nơi ngực đã được gỡ xuống. Dù là thở hay nói chuyện, đều có khí lực hơn hẳn trước kia.
Một hôm đùa giỡn cùng Cẩu Nhu, Nguyên Trinh bất ngờ nắm lấy tay nàng, Cẩu Nhu hất một cái không sao hất ra được. Chân nàng vẫn chưa có cảm giác, nhưng lực ở tay lại rõ ràng mạnh hơn lúc trước rất nhiều.
Việc này trước nay chưa từng có. Cẩu Nhu vui mừng ra mặt: “Điện hạ ra ngoài một chuyến, thân thể càng lúc càng khá lên. Cứ thế này, e là chẳng cần gặp Hoàn y công nữa cũng được.”
Nguyên Trinh nhìn tay mình, sắc da đã có chút hồng hào, thịt cũng nhiều hơn đôi phần, trong lòng bất giác trầm ngâm: “Chẳng lẽ phong thủy trong vương cung thật sự không tốt?”
Khi đến địa giới Trần Lưu quận, Thượng Quan giáo úy thúc ngựa chạy tới bẩm báo:
“Đại nương tử, trời đã sẩm tối, phía trước có một tòa ngụ bộ trang viên và một ngôi tự viện, đêm nay chúng ta tá túc nơi nào?”
Rời khỏi Quảng Lăng, để tránh rước họa, Nguyên Trinh sớm đã bảo bọn họ đổi xưng hô và thân phận nàng là họ hàng xa bên nhà cậu ở Giang Châu, còn các tử sĩ là bộ khúc theo hầu, chuyến này đi Trường An là để tìm thầy cầu thuốc.
Lưu dân hoành hành, ban đêm trú ở ngụ bộ là lựa chọn tốt nhất. Nhưng cũng chẳng hiếm chuyện chủ trang nhân loạn thế mà gϊếŧ người cướp của, nên họ thường dùng danh nghĩa Trịnh Thứ sử để trấn áp lòng tham, nhờ đó mà đã đi được hơn chục ngày yên ổn.
Nguyên Trinh ra lệnh cho Thượng Quan giáo úy đến trước mượn trọ ở ngụ bộ. Khi bọn họ đến cổng lớn thì gọi mãi, gõ mãi, cũng chẳng ai lên tiếng.
Trời phủ mây dày, tường đất gạch nung ẩm ướt lạnh lẽo, cả tòa ngụ bộ im lìm chết chóc, chỉ có lá cờ trên vọng lâu khẽ phần phật trong gió, từ trong ra ngoài đều toát lên vẻ âm trầm khó tả.
Nguyên Trinh vén rèm nhìn ra ngoài, gọi Thượng Quan giáo úy đến hỏi: “Ngươi dò đường lúc trước, không thấy có ai ra vào nơi này sao?”
Giáo úy ngẫm lại, chợt giật mình quả thực dọc đường vắng hoe, ngoài vài con quạ đen kêu trên cây, chẳng thấy một bóng người.
Trên vọng lâu, mấy bóng đen lấp ló, ló đầu nhìn xuống rồi lập tức trốn đi.
Cẩu Nhu giơ tay chỉ, hừ lạnh: “Thấy chưa, rõ ràng trong đó có người, bọn ta cũng đâu phải bọn đạo tặc, có cần thiết sợ đến mức không dám hé răng nửa lời?”