Trong gara không có máy hút mùi, vừa nhóm bếp lên là nhiệt độ tăng vọt, có thể nghe thấy tiếng nước sôi ùng ục.
“Không sao đâu.” Giang Trĩ Nhân cúi đầu, chà chà lên ống quần: “Lâu như vậy rồi, không nhớ ra cũng là bình thường thôi.”
“Cậu ấy vẫn chưa nhớ mặt thôi.” Đặng Lâm Trác nói: “Tiểu Mã vẫn nhớ cậu đấy, suốt ngày cứ lẩm bẩm Nhân Nhân là đại anh hung, nói hoài không dứt.”
Sau lưng vang lên tiếng “cạch”, hình như Văn Kỳ cầm đũa không vững, làm rơi xuống đất. Cậu cúi người nhặt lên.
Ngay khi nghe thấy câu nói đó, người Giang Trĩ Nhân cũng khẽ khựng lại. Hàng mi cô cụp xuống, ánh mắt bỗng chốc trở nên mơ hồ.
Nhiều năm trước, cũng từng có người nói với cô một câu y hệt như thế.
“Nhân Nhân?” Mã Thế Thông bất chợt lẩm bẩm, nhắc đi nhắc lại:
“Nhân Nhân là đại anh hùng… nhưng bà Vương bảo cậu ấy sẽ không quay lại nữa.”
Văn Kỳ bỗng cất tiếng, chuyển đề tài: “Chẳng phải cậu có chuyện muốn hỏi sao?”
Giang Trĩ Nhân “ồ” lên, rồi đưa mắt nhìn sang Đặng Lâm Trác: “Tôi muốn hỏi bà Vương giờ được chôn ở đâu, lâu lắm rồi không gặp lại, không ngờ bà đã… mất rồi.”
Sau khi cô nói xong, Đặng Lâm Trác nghĩ hồi lâu, cân nhắc từng chữ: “Trên núi ở vùng ngoại thành phía Tây, cụ thể là ngọn nào thì tôi không rõ, chỗ đó cũng chẳng có dấu hiệu gì. Bà Vương không có người thân khác, lúc đó chỉ có mấy đứa tụi tôi lo hậu sự, không có tiền nên không mua nổi một mảnh đất chôn tử tế, cuối đành đem bình tro cốt lên núi rồi chôn tạm ở đó.”
“Cậu muốn đến thắp hương cho bà?”
Cô gật đầu.
Văn Kỳ bưng một bát mì đặt trước mặt Giang Trĩ Nhân, mấy người còn lại thì tự mình ra nồi vớt mì. Đặng Lâm Trác vỗ vỗ quần, đứng dậy: “Được, khi nào cậu rảnh thì gọi tôi, tôi chở cậu đi.”
“Vậy tí nữa add WeChat tôi nhé.” Văn Kỳ vừa nói vừa rút một tờ giấy lau đũa, sau đó đưa cho Giang Trĩ Nhân.
Giang Trĩ Nhân cố tình nhấn mạnh chữ thứ tư: “Add WeChat cậu sao?”
Có vẻ cậu không định ăn tối, chỉ thu dọn qua loa mấy món xung quanh. Khi xách balo của cô lên, cậu thoáng khựng lại vì nặng hơn cậu nghĩ.
Đặng Lâm Trác giải thích: “Ba nuôi tôi sợ tôi mải chơi game rồi hỏng việc nên không cho tôi làm thẻ. Có chuyện gì thì cậu cứ liên hệ với Văn Kỳ, dù sao tôi với cậu ấy cũng sống chung.”
Cha nuôi cậu ta lái xe đêm giao hàng, hiếm khi ở nhà vào buổi tối. Tiền sinh hoạt thì không thiếu, nhưng ba ngày hai bữa cũng chẳng gặp được mặt.
Giang Trĩ Nhân đáp “ừ” rồi gắp một đũa mì đưa vào miệng.
Mì được nấu hơi lâu, mềm và mỏng, rất thấm nước dùng, đến khi ăn gần hết thì gắp không lên nổi, chỉ còn cách bưng bát mà húp.
Ba người bọn họ mỗi người ôm một bát mì, còn Văn Kỳ thì cầm chiếc đèn bàn hơi sáng hơn chút, gác một bên trên đầu giường, tháo máy trợ thính ra, nửa nằm nửa ngồi đọc sách. Một tay cậu giữ mép trang sách, tay kia chậm rãi xoa nhẹ vành tai như thể chỗ đó hơi khó chịu.
Giang Trĩ Nhân vốn định hỏi sao cậu không ăn, nhưng thấy cậu đã tháo máy trợ thính thì cũng ngại lên tiếng, đành quay sang hỏi Đặng Lâm Trác: “Cậu ấy không thích ăn đêm à?”
Miệng Đặng Lâm Trác còn đầy mì, chưa kịp kìm lại thì buột miệng nói luôn: “Ở đây bình thường cũng chẳng có ai đến chơi, chỉ có ba đôi bát đũa thôi. Cái bộ cậu đang dùng là của Văn Kỳ đấy, nên cậu ấy không ăn được, đến cái nồi cũng thiếu một đôi đũa cơ mà.”
Cậu ta lập tức khựng lại, ngẩng đầu liếc nhìn Văn Kỳ, rồi nhớ đến câu “đừng nhiều chuyện” mà cậu vừa dặn tối qua, liền cụp mi xuống, giả vờ như chưa từng nói gì.
Chiếc quạt lắc lư phả gió sang phía Giang Trĩ Nhân, luồng hơi nóng thổi vào trán khiến cô bất giác cảm thấy bát đũa trong tay như nóng ran.
Cô cẩn trọng húp nốt nửa bát mì còn lại, rồi như trút được gánh nặng mới đặt bát xuống, thở ra một hơi.
Văn Kỳ nhặt máy trợ thính đầu giường lên, đeo lại vào tai rồi xách balo của cô lên. Giang Trĩ Nhân dõi theo cậu, nghi ngờ hỏi: “Cậu cầm balo tôi làm gì?”
“Đưa cậu về.” Cậu ngồi xổm trước cửa buộc dây giày: “Bên ngoài tối lắm, không an toàn.”
Không ngờ người này cũng tốt bụng phết.