Chương 8: Thuận buồm xuôi gió

Sau một ngày bôn ba, chiếc bánh Phục Linh cuối cùng cũng được đặt lên bàn. Vốn được cất trong ngực áo, chiếc bánh giờ đây đã vỡ vụn thành từng mảnh. Những mảnh vụn li ti theo gió bay đi, rải rác khắp mặt bàn, trông tựa như được phủ lên một lớp sương trắng.

Giọng nàng lạnh lùng, tựa như bị ngăn cách bởi một màn sương dày, mang theo chút giá buốt: "Chẳng phải bà lão bán bánh đã nói rồi sao? Nhị ca của ta vừa mới lên kinh thành đã bị vu cho tội trộm cắp tài vật, làm nhục phụ nữ. Cha ta đi kêu oan, thì lại đúng lúc gặp phải chuyện lật thuyền mà chết đuối. Ngay cả khi mẫu thân ta không làm gì, thì cuối cùng cả nhà ta cũng bị một trận hỏa hoạn thiêu rụi."

Nàng nhìn thẳng vào Ngân Tranh, đôi mắt đen láy sáng rực dưới ánh đèn: "Nếu ta vào kinh, làm sao em dám chắc rằng, mình sẽ không phải là người tiếp theo?"

Ban đầu Ngân Tranh còn chưa hiểu, nhưng khi đã thông suốt ý tứ trong lời nói của Lục Đồng, sống lưng nàng bỗng lạnh toát.

Cái chết của cả Lục gia đều vô cùng kỳ lạ. Thay vì nói là do đυ.ng phải tà vật, chi bằng nói thẳng ra là họ đã đắc tội với một thế lực nào đó. Chỉ có điều, đối phương có thể dễ dàng khiến cả một gia tộc bị diệt vong, người thường sao có thể làm được đến mức này cơ chứ?

Lục Đồng nhìn nàng, ngữ khí vẫn bình thản: "Lần này vào kinh thành, chắc chắn sẽ gặp nhiều hiểm nguy. Ta nhất định phải điều tra rõ chân tướng vụ án của Lục gia, như vậy khó tránh khỏi việc phải đối đầu với kẻ đứng sau. Em với Lục gia vốn không thân không thích, hà cớ gì phải tự đẩy mình vào vũng nước đυ.c này? Chi bằng em cứ rời đi từ đây, sau này tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn."

"Chính vì vậy, nô tỳ càng không thể đi!" Ngân Tranh ngẩng đầu lên, ánh mắt kiên định: "Cô nương lần này vào kinh, vừa phải đối phó với hiểm nguy, vừa phải tính toán mưu đồ, chắc chắn sẽ cần người giúp đỡ. Tuy tay chân nô tỳ không được nhanh nhẹn, nhưng việc giao tiếp với người khác cũng coi như tạm ổn, biết đâu có thể giúp cô nương dò la tin tức. Hai người vào kinh thành, dẫu sao cũng có người nương tựa, vẫn tốt hơn là một mình đơn độc."

Thấy Lục Đồng vẫn không hề lay động, Ngân Tranh lại tha thiết nói: "Hơn nữa cô nương cũng biết, nô tỳ ngoài việc đi theo cô nương thì cũng chẳng còn nơi nào để đi. Tuy rằng hiện tại cô nương đã chữa khỏi bệnh cho nô tỳ, nhưng biết đâu ngày nào đó bệnh cũ lại tái phát..." Nói đến đây, một nỗi bi thương dâng lên từ tận đáy lòng nàng: “Trên đời này, người thực sự không chê bai nô tỳ, cũng chỉ có một mình cô nương mà thôi."

Nàng vốn là một kỹ nữ từng mắc bệnh ô uế, người thường nghe thấy đều tránh xa như tránh tà, hoặc dùng ánh mắt khinh miệt để nhìn. Chỉ có Lục Đồng là đối xử với nàng không khác gì người bình thường. Và cũng chỉ khi ở bên cạnh Lục Đồng, Ngân Tranh mới cảm thấy lòng mình được bình yên.

"Cô nương đã cứu nô tỳ một mạng, vậy thì mạng này của nô tỳ chính là của cô nương. Cho dù phía trước có là đầm rồng hang hổ, là đao sơn biển lửa, nô tỳ cũng nguyện cùng cô nương xông pha."

Lời nói tuy hào hùng là thế, nhưng người nói lại chẳng có chút tự tin nào, chỉ thấp thỏm nhìn người đối diện, chờ đợi một câu trả lời.

Căn phòng yên tĩnh đến lạ thường. Một lúc lâu sau, Lục Đồng mới lên tiếng: "Đứng lên đi. Ta đồng ý đưa em đi cùng."

Ngân Tranh mừng rỡ trong lòng, sợ Lục Đồng đổi ý nên vội vàng đứng dậy, rồi hấp tấp đi ra ngoài, vừa đi vừa quay đầu lại cười nói với Lục Đồng: "Vậy là quyết định rồi nhé! Cô nương không được nuốt lời đâu đấy... Món ăn kèm chắc cũng sắp xong rồi, nô tỳ sẽ đi giục họ mang lên nhanh một chút. Cô nương ăn xong thì nghỉ ngơi sớm đi, đã muốn lên kinh thành thì lại phải vội vàng lên đường, cần phải giữ gìn sức khỏe, nhớ đừng để mệt mỏi..."

Nàng cứ thế lẩm bẩm rồi rời đi. Trong phòng, Lục Đồng đứng dậy.

Ngọn đèn trên bàn đã sắp cạn dầu, chỉ còn một đoạn tim đèn ngắn củn đang tỏa ra ánh sáng màu cam. Lục Đồng cầm chiếc đèn l*иg trên bàn lên, ngọn lửa yếu ớt trên bàn bỗng lay động rồi tắt hẳn.

Một tia lửa nhỏ từ chiếc đèn đã cạn dầu bất ngờ bùng lên, rơi xuống xung quanh, nhìn thoáng qua tựa như một bông hoa nhỏ bé đang tàn lụi.

Tim đèn bùng cháy, được người đời coi là điềm lành.

Lục Đồng lặng lẽ nhìn tro tàn trước mắt. Đôi đồng tử của nàng phản chiếu ánh sáng từ chiếc đèn l*иg, tựa như ngọn lửa rực cháy giữa đêm đen.

Hoa đèn cười...

Điềm báo tốt đẹp như vậy, xem ra, chuyến đi kinh thành này, nhất định sẽ rất thuận lợi.

-

Có lẽ đèn hoa báo hiệu điềm lành thật, nên chặng đường vào kinh sau đó đều thuận buồm xuôi gió.

Đợi đến khi hai người Lục Đồng và Ngân Tranh đến được Thịnh Kinh, thì cũng đã là chuyện của một tháng sau.

Ngân Tranh đưa giấy thông hành cho lính canh, rồi cùng Lục Đồng bước qua cổng thành. Vừa vào đến đường phố, nàng đã bị sự phồn hoa của Thịnh Kinh làm cho choáng ngợp, bất giác thốt lên: "Quả nhiên là Thịnh Kinh!"

Vừa bước qua cổng thành, một khung cảnh náo nhiệt lập tức hiện ra trước mắt. Hai bên đường, các quán rượu lớn nhỏ san sát, những quán trà cũng có thể bắt gặp ở khắp nơi. Có một phụ nữ mặc váy lụa đỏ đang rao bán hoa đào, hương thơm lan tỏa cả một góc phố. Người đi lại trên đường tấp nập, chen chúc nhau. Dưới những chiếc đèn l*иg treo trước các tửu lâu còn được đính những chuỗi hạt cườm nhỏ, lấp lánh dưới ánh nắng.

Tiết trời quang đãng, mây tan hết, phố xá phồn hoa, người qua lại tấp nập, quả thực là một khung cảnh phú quý phồn vinh đến mê người.

Trong lúc Ngân Tranh còn đang trầm trồ kinh ngạc, Lục Đồng đã thu hồi tầm mắt, nói: "Chúng ta tìm một quán trọ để nghỉ ngơi trước đã."

Kinh thành vốn đất chật người đông, giá phòng trọ tự nhiên cũng vì thế mà đắt đỏ. Hai người tìm được một quán trọ nhỏ tương đối sạch sẽ để ở tạm. Ngân Tranh đi gọi món ăn, còn Lục Đồng thì xuống lầu.

Quán trọ này nằm ở phía tây thành, cách khu phố sầm uất nhất là phố Nam một khoảng, vì vậy mà giá phòng không quá đắt. Những người đến đây trọ lại phần lớn là thương nhân đến kinh thành buôn bán.

Lục Đồng đi đến trước quầy. Chưởng quỹ là một người đàn ông trung niên mặc áo dài màu nâu sẫm, đang bận rộn gảy bàn tính thì bỗng nhiên nghe thấy có người hỏi: "Chưởng quỹ, gần đây có chỗ nào bán đồ sứ không ạ?"

Chưởng quỹ ngẩng đầu lên, thấy trước mặt là một cô nương trẻ tuổi.

Nữ tử ở Thịnh Kinh đa phần cao ráo xinh đẹp, nhưng cô nương trước mặt lại có phần nhỏ nhắn hơn. Nàng sở hữu gương mặt trái xoan, đôi mắt đen láy trên nền da trắng nõn nà. Vóc người có phần mảnh mai, trông mong manh dễ vỡ. Nàng mặc một chiếc váy lụa trắng, giản dị mà thanh nhã, mái tóc đen được búi gọn gàng, chỉ cài một bông hoa lụa trắng bên mai tóc. Khi đứng ở nơi này, dáng vẻ của nàng khiến người ta liên tưởng đến một đóa phù dung mới nở, vừa thanh tú lại vừa diễm lệ.

Trong mắt chưởng quỹ, một mỹ nhân như vậy tựa như viên ngọc quý được nuôi dưỡng giữa chốn non xanh nước biếc, vừa trong trẻo lại vừa thuần khiết.

Chưởng quỹ cười nói: "Cô nương không phải người ở đây sao? Trông cô nương có vẻ đến từ Giang Nam thì phải?"

Lục Đồng không tỏ thái độ rõ ràng, nàng chỉ mỉm cười hỏi: "Nghe danh đồ sứ của Kha gia ở Thịnh Kinh đã lâu, chẳng hay chưởng quỹ có biết nếu muốn mua thì phải tìm đến nơi nào không ạ?"

Nàng vừa dứt lời, còn chưa đợi chưởng quỹ đáp lại, thì từ một bàn ăn trong sảnh chính đã có vị khách cất giọng chen vào: "Kha gia ư? Đồ sứ của Kha gia thì có gì hay ho chứ? Chẳng qua chỉ là chó ngáp phải ruồi, gặp thời gặp thế mà thôi!"

Lục Đồng quay đầu nhìn lại, thấy người vừa lên tiếng là một người đàn ông ăn mặc theo lối thương nhân. Nàng hơi khựng lại rồi mới hỏi: "Xin hỏi vị đại ca đây, vì sao lại nói như vậy?"

Thấy có người bắt chuyện, vị thương nhân kia cũng chẳng ngại ngần chia sẻ, liền thao thao bất tuyệt: "Trước đây, Kha gia cũng chỉ là một tiệm đồ sứ thường thường bậc trung ở kinh thành, chẳng nghe nói có kỹ nghệ gì đặc biệt xuất chúng. Thế nhưng khoảng một năm trước, không biết gặp được vận may gì mà người của phủ Thích thái sư lại đi mua chén đĩa cho thọ yến của lão phu nhân, rồi vừa mắt đồ của Kha gia. Mà thọ yến của Thích lão đại nhân thì được tổ chức linh đình đến mức nào chứ, thế là Kha gia cũng thơm lây, một bước lên mây. Kể từ đó, rất nhiều quan lại trong kinh thành đều tìm đến Kha gia đặt đồ sứ, danh tiếng cứ thế mà vang xa."

Nói đến đây, vị thương nhân hớp một ngụm trà rồi đặt mạnh chén xuống bàn, giọng đầy vẻ bất bình: "Cái Kha gia đó dạo gần đây gần như đã thâu tóm toàn bộ thị trường đồ sứ ở Thịnh Kinh rồi, đến một muỗng canh cũng không chừa lại cho người khác. Bây giờ ở kinh thành này, thiên hạ chỉ biết đến một mình Kha gia bán đồ sứ, còn ai nhớ đến những nhà khác nữa đâu?"

Xem ra vị thương nhân này cũng là một trong những người bị Kha gia chèn ép đến không còn đường sống. Thấy Lục Đồng trầm ngâm, ông ta lại khuyên nhủ: "Cô nương à, cô cũng đừng đến Kha gia làm gì cho mất công. Bây giờ người ta chỉ bán đồ cho nhà quan thôi, đâu có thèm để mắt đến mấy mối buôn bán nhỏ lẻ này, hà cớ gì phải tự đi chuốc lấy bực mình."

Giọng Lục Đồng vẫn ôn hòa, nhưng ý cười trong mắt đã tắt hẳn. Nàng khẽ đáp: "Nghe đại ca nói vậy, tiểu nữ lại càng thêm tò mò, thật muốn được tận mắt xem thử, rốt cuộc là loại đồ sứ tinh xảo đến mức nào mà có thể lọt vào mắt xanh của phủ Thái sư, một nơi vốn chỉ quen dùng những thứ cao sang bậc nhất."

"Nếu cô nương thực sự muốn đến xem thì cũng không khó." Chưởng quỹ thấy vậy cũng niềm nở, cười tủm tỉm chỉ đường cho Lục Đồng: “Kha gia ở thành nam, cô nương cứ đi thẳng con đường này, sẽ thấy cây cầu Lạc Nguyệt. Qua cầu, ở cuối cầu có một tòa lầu tên là Phong Lạc Lâu, bên dưới có một con hẻm. Cô nương chỉ cần đi hết con hẻm đó là sẽ thấy đại trạch của Kha gia."

Lục Đồng cảm ơn chưởng quỹ và vị thương nhân, sau đó mới trở về phòng. Vừa vào phòng, Ngân Tranh đã dọn xong bữa trưa, liền giục: "Cô nương, mau dùng bữa đi ạ."

Lục Đồng ngồi xuống bàn, cùng Ngân Tranh cầm đũa lên. Ngân Tranh dè dặt lên tiếng: "Cô nương, vừa rồi nô tỳ nghe thấy cô nương hỏi thăm nơi ở của Kha gia ở dưới lầu..."

Lục Đồng đáp: "Cứ ăn cơm trước đã, ăn xong chúng ta phải đến Kha gia một chuyến."

Nghe lời vị thương nhân kia, Kha gia phất lên là vào một năm trước, mà một năm trước cũng chính là thời điểm Lục Nhu qua đời.

Chuyện này thật sự khiến người ta không thể không suy nghĩ sâu xa.

...

Phố Nam quả nhiên náo nhiệt hơn thành tây rất nhiều.

Trên cầu Lạc Nguyệt, dòng người qua lại như mắc cửi, cơn gió thổi từ mặt sông lên cũng mang theo hương phấn son nồng đượm. Dưới thành cầu treo rất nhiều đèn sừng bò, nghe nói vào những đêm trời trong, ánh đèn lung linh tựa đom đóm, vầng trăng non vằng vặc soi bóng xuống mặt nước, khiến cả một vùng chìm trong ánh trăng thơ mộng.

Đi qua con hẻm nhỏ dưới Phong Lạc Lâu, cuối con hẻm là một tòa nhà cao lớn. Trên tấm biển treo trước cửa có đề hai chữ "Kha trạch", đây chính là phủ đệ mà Kha gia mới tậu.

Bấy giờ đang là giữa trưa, một gã sai vặt áo xanh đang dựa vào cửa gà gật. Tuy Kha gia giàu có nứt đố đổ vách, nhưng chủ nhân lại nổi tiếng hà khắc, keo kiệt với hạ nhân. Người gác cổng vốn đã ít ỏi, đêm phải thức trắng, ngày lại phải tiếp tục làm việc, nên khó tránh khỏi có lúc lơ là.

Đang lim dim ngủ, gã bỗng nghe có tiếng người nói ngay trước mặt: "Tiểu ca, xin hỏi thiếu gia của quý phủ có phải là Kha Thừa Hưng, Kha đại gia không?"

Người gác cổng giật mình tỉnh giấc, thấy trước mặt là hai cô nương trẻ tuổi, một người trong đó còn đeo mạng che mặt.

Hắn đáp: "Phải, hai vị là..."

"Cô nương nhà ta là biểu muội bên nhà mẫu thân của phu nhân quá cố, muốn đến bái kiến lão phu nhân của quý phủ."

Trong hoa viên của Kha gia, những đóa mẫu đơn đang vào mùa nở rộ.

Kha lão phu nhân vốn không thích sự thanh tịnh ảm đạm, là người làm ăn buôn bán nên bà ta luôn chuộng cảnh náo nhiệt phồn hoa. Sau khi mua tòa nhà này, bà ta đã cho người đào bỏ hết mấy bụi tre xanh của chủ cũ, lấp cả ao sen để cải tạo thành một hoa viên. Bởi vậy, trong vườn quanh năm hoa nở, rực rỡ sắc màu.

Lúc này, trong đại sảnh, Kha lão phu nhân đang ngồi trên trường kỷ xem nha hoàn thêu quạt. Trên bàn bày vài đĩa bánh mật ong và hạt dẻ luộc, thi thoảng bà ta lại nhón một miếng bỏ vào miệng, rồi lại chê bánh hôm nay làm nhạt quá.

Người gác cổng bước vào, nhỏ giọng bẩm báo: "Lão phu nhân, ngoài cửa có người muốn cầu kiến, nói là biểu muội bên nhà mẹ của phu nhân quá cố..."

Sắc mặt lão phu nhân chợt biến đổi, giọng nói bất giác cao vυ"t lên: "Biểu muội nhà ai?"

Người gác cổng rụt rè đáp: "Dạ, của phu nhân quá cố ạ..."

Lão phu nhân nhíu mày: "Lục gia chẳng phải đã chết hết rồi sao? Từ đâu lại lòi ra một cô biểu muội bên nhà mẹ đẻ thế này?"

Ma ma thân cận đứng bên cạnh liền lên tiếng: "Có lẽ là họ hàng xa nào đó, không biết chuyện của Lục gia nên tìm đến đây để kiếm chác thôi ạ."

Kha lão phu nhân suy nghĩ một lát rồi phất tay, dặn dò người gác cổng: "Không cần để ý đến, đuổi đi là được."

Người gác cổng vâng lời rời đi, nhưng chẳng bao lâu sau lại quay trở lại.

Lão phu nhân mất kiên nhẫn: "Vẫn chưa đi sao?"

"Dạ chưa ạ..." Người gác cổng trông có vẻ khó xử: “Người đó nói có quan hệ rất thân thiết với phu nhân quá cố, nghe tin Lục gia gặp nạn nên đặc biệt đến đây để lấy lại của hồi môn của phu nhân..."

"Của hồi môn?" Sắc mặt Kha lão phu nhân lập tức sa sầm: “Thứ nhà quê không biết trên dưới từ đâu ra vậy, của hồi môn cái gì? Lục thị thì có của hồi môn gì chứ!"

Người gác cổng nuốt nước bọt, cẩn thận thưa: "Người đó nói, nếu không gặp được lão phu nhân, nàng ta sẽ ngồi lì ở trước cửa, rồi đi hỏi thăm từng nhà xung quanh. Lão phu nhân, người qua kẻ lại nhiều như vậy, nếu chuyện này truyền ra ngoài e là không hay..."

Sắc mặt Kha lão phu nhân tái mét, một lúc lâu sau mới nghiến răng nghiến lợi ra lệnh: "Cho nó vào đây!"