Nói cách khác, trận hạn hán này sẽ kéo dài rất lâu.
Cô nhớ ở công xã có một chiếc máy kéo mà nông trường đã thải ra, nằm đó làm phế liệu mười mấy năm rồi. Trong đầu cô có một phương án cải tạo nó thành máy bơm nước, cần phải kiểm tra xem sao.
Hà Hi bình tĩnh liếc Lý Trọng Quốc một cái, giọng lạnh tanh: “Không cho em đi thì không ai được đi cả.”
Lý Trọng Quốc chê bai: “Em chẳng biết làm gì lại còn đi chậm, có tác dụng gì chứ!”
Hà Hi liền nói: “Chẳng phải có xe đạp sao? Anh đèo em.”
Lý Trọng Quốc còn định nói gì đó, Lý Nhất Dân đã đồng ý: “Vậy thì đi thôi, đi nhanh lên, đến đó canh trước, kẻo ông ta chạy mất.”
Hà Hi vội vàng vào nhà lấy đồ.
****
Nhà họ Lý chỉ có một chiếc xe đạp, bình thường là Lý Đại Tráng dùng. Nhưng hôm nay trong thôn có việc, bí thư chi bộ cho người đánh xe bò đi nên mọi người đều ngồi xe bò cả.
Vì vậy, chuyến đi này biến thành Lý Nhất Dân chở Hà Hi đi báo tin, còn Lý Trọng Quốc và Lý Quý Quân đi mai phục. Lý do Lý Nhất Dân đi xe đạp là vì anh ta cảm thấy Lý Trọng Quốc không đáng tin, sợ làm ngã Hà Hi.
Công xã nơi thôn Tiểu Lý tọa lạc có tên là công xã Ba Tám, một cái tên mang đậm hơi thở lịch sử.
Dưới công xã có tổng cộng bốn đại đội, thực chất là bốn thôn tự nhiên, bao gồm thôn Tiểu Vương, thôn Đại Dương Thụ, thôn Liễu Hà và thôn Tiểu Lý.
Trụ sở công xã nằm ở thôn Đại Dương Thụ, ngay giữa bốn thôn. Để tránh mặt Lý Đại Tráng, Lý Nhất Dân cố tình đi đường tắt.
Dọc đường, trời nắng gắt, Hà Hi chỉ cảm thấy một lát sau mặt đã nóng ran, rõ ràng là hơi bị cháy nắng.
Con đường đi qua toàn là ruộng đồng. Lúa mì trong ruộng đều còi cọc thấp bé, thậm chí còn vàng úa, lá quăn tít lại. Hà Hi vừa dùng tay áo che mặt, vừa hỏi: “Anh cả, đồng ruộng khô hạn, bí thư chi bộ không có biện pháp gì sao ạ?”
Thực ra cô muốn hỏi xem có giếng nước không. Thôn Tiểu Lý không có điện, động cơ của máy kéo và máy phát điện vừa hay có thể cải tạo thành máy bơm. Nếu có giếng thì sẽ tiện hơn nhiều, không có giếng thì rất phiền phức.
Chiếc xe đạp lộc cộc lăn bánh, giọng Lý Nhất Dân theo gió bay đến: “Tất nhiên là có! Chỗ chúng ta mấy chục năm nay chưa từng bị hạn hán. Mùa đông năm ngoái không mưa, bí thư chi bộ nói e là sắp có hạn, bèn dẫn trai tráng trong thôn đi đào bốn cái giếng bơm tay. Kia kìa!”
Nói rồi, vừa lúc đi qua ruộng của thôn Tiểu Lý, Hà Hi thấy không ít người đang gánh nước tưới đồng.
Lý Nhất Dân thở dài: “Giếng bơm tay khó lấy nước, nửa ngày mới được một thùng. Thôn mình lại chỉ có bốn cái giếng, tưới một mẫu ruộng mất cả ngày lẫn đêm. Trai tráng trong thôn đông như vậy mà đành bó tay, em nói xem có uất ức không!”
Hà Hi nhẩm tính trong đầu liền biết trời hạn thế này, tưới chậm như vậy thì tưới xong vài ngày lại khô cong, mà những thửa ruộng khác còn chưa được tưới tới.
Thực ra chẳng có tác dụng gì mấy, vẫn phải có lượng nước lớn mới giải quyết được vấn đề.
Quả nhiên, Lý Nhất Dân cũng nói: “Hôm nay phải tranh được nước sông Tiểu Thanh, nếu không sang năm cả thôn sẽ phải chịu đói.”
Từ thôn Tiểu Lý đến thôn Đại Dương Thụ không xa, chỉ mất chừng hai mươi phút.
Xuống xe, Hà Hi suýt nữa thì đi khập khiễng, con đường nhỏ toàn ổ gà ổ voi khiến mông cô đau ê ẩm.
Lý Nhất Dân giấu xe đạp vào một nơi kín đáo rồi dẫn cô đến sân trụ sở công xã. Lúc hai người đến nơi, người của bốn thôn đã có mặt đông đủ, đang họp trong văn phòng.
Lý Nhất Dân rõ ràng rất quan tâm đến chuyện tưới tiêu, anh ta bảo Hà Hi đợi rồi lẻn đến dưới cửa sổ nghe lén.
Hà Hi nghe được vài câu, lúc này Bí thư Lâm đang làm công tác tư tưởng. Cô nói nhỏ: “Em ra sau đi dạo một lát.” Lý Nhất Dân đang tập trung lắng nghe, liền xua tay.
Hà Hi liền men theo ký ức đi vào sâu bên trong.
Quả nhiên, trong nhà kho phía sau, qua khe cửa cô nhìn thấy chiếc máy kéo.
Nó hoàn toàn khác với những chiếc máy kéo của thế kỷ 21, thân hình to lớn và thô kệch. Vì đã lâu không sử dụng, toàn bộ thân máy ngoài rỉ sét ra thì toàn là dầu mỡ đen kịt, phủ một lớp bụi dày.
Rõ ràng công xã đã bỏ mặc nó từ lâu, vứt xó ở đây như một đống sắt vụn.