Bố mẹ hai bên tuy cùng là đồng nghiệp, nhưng ban đầu quan hệ cũng chỉ xã giao. Nhờ bọn trẻ kết bạn ở trường mẫu giáo, hai gia đình mới thật sự thân thiết hơn. Cả hai đều là gia đình song thân đi làm, thường có lúc không thu xếp được thời gian trông con, lại không có ông bà giúp đỡ, nên họ bàn bạc “liên minh nuôi con”: ai rảnh thì chăm luôn cả hai đứa, vừa tiện lợi vừa tiết kiệm công sức.
Sau khi lên tiểu học, vì Trường Tiểu học Thực nghiệm số Một nằm ngay gần khu tập thể cơ quan, bố mẹ cũng không còn đưa đón, mà để Kỳ Tần và Mạnh Hoà Tô tự đi học, sớm chiều có nhau.
Ban đầu, để tiện cho lịch lớp múa của Kỳ Tần, Mạnh Hoà Tô cũng đăng ký một lớp mỹ thuật ở Cung Thiếu Nhi. Lớp sơ cấp mỗi buổi chỉ yêu cầu vẽ một bức tĩnh vật, nộp cho thầy chấm xong là có thể về. Rõ ràng cô bé chẳng mấy hứng thú với hội hoạ, thường chỉ vẽ qua loa cho xong rồi chạy ra khỏi Cung Thiếu Nhi đi chơi, tiện thể đợi Kỳ Tần tan học.
Lúc ấy, trước cổng Cung Thiếu Nhi ngày nào cũng có hội bán sách. Kỳ Tần học xong, luôn thấy Mạnh Hoà Tô ngồi chồm hổm ở một góc lều tạm, mải mê đọc truyện tranh. Thấy cậu bước ra, cô mới lưu luyến gấp sách lại, đánh dấu chỗ đang đọc dở để hôm sau tan học lại tìm đúng cuốn ấy, tiếp tục đọc tiếp. Thầy dạy mỹ thuật cũng biết cô chẳng chuyên tâm, nên với những bức tranh vẽ lấy lệ của Mạnh Hoà Tô cũng chỉ mắt nhắm mắt mở cho qua.
Mạnh Hoà Tô vốn là như thế, không có chuyện gì nhất định phải làm, cũng chẳng có mong ước gì nhất thiết phải đạt được, lại càng không mang tham vọng to tát nào. Cô bé chỉ sống tự do, thảnh thơi, để mặc mình trôi theo những gợn sóng của số phận.
Cô và Kỳ Tần rất khác nhau, cả hai đều hiểu rõ điều đó.
Sau một thời gian luyện tập như vậy, giáo viên ở Cung Thiếu Nhi đã liên hệ với bố mẹ Kỳ Tần, rất chân thành khuyên họ nên tìm cho cậu một giáo viên chuyên nghiệp, để bồi dưỡng cậu theo con đường vũ công. Lúc nghe những lời này, Kỳ Tần đứng ngay bên cạnh, nhìn gương mặt bố mẹ vừa đầy lo lắng vừa không giấu nổi niềm vui vì con được khen ngợi, trong lòng bỗng nghĩ:
Thì ra mình thật sự khác biệt ư?
Không hiểu vì sao, chỉ sau cuộc trò chuyện ấy, khát vọng trở thành diễn viên ba-lê của cậu lại trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
Thế là chẳng bao lâu sau, Mạnh Hoà Tô từ việc hộ tống cậu đến Cung Thiếu Nhi chuyển sang hộ tống cậu đến lớp luyện thi nghệ thuật. Nói là “hộ tống” cũng chẳng quá lời. Mãi đến khi tốt nghiệp cấp hai, Kỳ Tần mới cao kịp cô bé; suốt những năm tiểu học, Mạnh Hoà Tô luôn ngồi bàn cuối, đứng cuối hàng, mặc đồng phục cỡ lớn nhất, còn cậu không hiểu sao mà chiều cao lại tăng trưởng chậm chạp, khiến bố mẹ sốt ruột đưa đi khám mấy lần, kết quả nhận được đều chỉ là: cứ đợi thêm.
Ban đầu, hai đứa hẹn nhau gặp ở cổng trường. Cho đến một lần, Kỳ Tần bị giữ lại vì làm trực nhật, Mạnh Hoà Tô đợi mãi không thấy anh ra, bèn đến tận cửa lớp tìm thì phát hiện cậu đang bị bạn cùng lớp bắt nạt.
Từ lần đó trở đi, ngày nào cô bé cũng đến tận cửa lớp để đón cậu.
Bây giờ nhớ lại vẫn thấy khó hiểu — ác ý của bọn trẻ con sao mà rõ ràng, sắc bén và trần trụi đến thế. Cậu chỉ vừa ra ngoài đổ rác, quay lại đã thấy khoá cặp bị mở toang, cặp bị vứt xuống đất như xác một con vật hoang bị mổ bụng, giày múa và đồ tập bị lôi ra ném tán loạn, trên đó còn in hằn vài dấu giày đen sì. Sàn lớp vừa được lau, nước chưa kịp khô, bám lên giày và đồ tập, để lại những vết bẩn ẩm ướt lẫn bùn đất.