Chương 49

Nhưng về sau, đến cuối thời Khang Hi rồi đến lúc Dận Chân kế vị, số con cháu Bát Kỳ lại vượt quá nhu cầu của triều đình. Hậu quả là quân ngũ trở nên dư thừa, hỗn tạp. Triều đình nuôi chẳng nổi, chiến tranh lại ít đi, binh lính ngày càng quen sống an nhàn. Cả quân đội vốn kỷ luật nghiêm minh cũng bị lây nhiễm phong khí lười biếng, điều này mới thật sự là tai họa.

Sau này, khi Dận Chân có ý muốn chỉnh đốn lại Bát Kỳ mới dẫn đến việc Dận Tự âm thầm bày bố cục, suýt chút nữa thì phá hỏng đại sự của Dận Chân.

Đương nhiên, chuyện này vẫn còn xa lắm, ít nhất cũng phải hai ba mươi năm nữa nên Ô Nhã Tú Trinh hoàn toàn không cần lo lắng. Nàng nghĩ tới nghĩ lui rồi bày cho đại ca của mình một cách. Nếu theo lối tuyển chọn bình thường, đại ca nàng chưa chắc đã có cơ hội lấy được chức vụ này. Nhưng hiện tại lại có một cái cớ thích hợp, chính là chuyện Đại a ca và Tam a ca trở về cung.

Đại a ca và Tam a ca về cung thì bên cạnh tất nhiên phải có thị vệ hộ tống. Vậy số thị vệ này lấy từ đâu ra? Phải tuyển từ trong đám thị vệ của cung đình. Đại ca của Ô Nhã Tú Trinh hiện giờ không có thân phận thị vệ, đương nhiên cũng chẳng có cách nào chen chân vào vòng này.

Nhưng, nếu trong cung điều thị vệ đi thì chẳng phải sẽ để trống ra mấy chỗ sao?

Những chỗ trống đó sẽ được bổ sung từ đâu? Chính là từ con em Bát Kỳ, các vương phủ, hoặc các nha môn.

Cách mà Ô Nhã Tú Trinh bày cho đại ca mình chính là như vậy, trước tiên tìm cách xin một chức thị vệ ở vương phủ. Hiện nay, người được Khang Hi tin tưởng nhất chính là Dụ Thân Vương. Nhưng muốn cầu được một chỗ ở Dụ Thân Vương phủ thì e rằng khó mà được. Vậy trong kinh thành này, còn vương phủ nào dễ xin việc làm thị vệ hơn?

Chính là Giản Thân Vương phủ.

Ô Nhã Tú Trinh cũng không viết thẳng ra “Giản Thân Vương phủ”, để phòng trường hợp lá thư này bị đưa tới tay Khang Hi, khiến y nghi ngờ nàng xen vào chuyện triều chính. Nàng chỉ viết lấp lửng vài câu về mấy vương phủ linh tinh, rồi nhét mảnh giấy ấy vào phong thư, đưa cho A Lan, dặn mang đi.

A Lan cầm thẻ bài ra khỏi cung, rất nhanh đã chuyển tin tới nhà Ô Nhã.

Ô Nhã phu nhân cầm thư ngẫm nghĩ một hồi lâu, rồi dứt khoát gọi con trai đến bàn bạc:

“Ta thấy muội muội con nói cũng có lý. Nhưng ta lại cảm thấy con hợp với con đường thứ nhất hơn. Tính tình con thế này, nếu đi làm thị vệ… Chỉ e là khó mà trụ nổi.”

Con mình thì bà hiểu rõ nhất. Nó vốn chẳng phải loại thích hợp luyện võ, nếu không thì đã chẳng nghĩ đến chiêu “đọc sách để tiến thân”. Dù gì so ra đọc sách cũng nhẹ nhàng hơn nhiều. Võ nghệ không đủ, làm thị vệ thì khác nào đem dao nhỏ ra đỡ đao lớn?

Ô Nhã đại ca cũng hơi nghiêng về lựa chọn thứ nhất, nhưng lại có chút do dự:

“Muội muội hình như lại coi trọng cái thứ hai hơn. Mẹ xem, độ dài bức thư đó, cái đề nghị thứ nhất chỉ viết có mấy dòng, còn cái thứ hai thì dài lê thê!”

Y còn giơ tay mô tả: tổng cộng hai tờ giấy, riêng phần thứ hai đã chiếm một tờ rưỡi. Nhìn số chữ nhiều là biết ngay! Vừa nhìn đã rõ ràng.

Ô Nhã phu nhân lập tức cạn lời. Cũng chỉ có nó mới để ý mấy chuyện nhỏ nhặt kiểu này! Ai nói coi trọng hơn thì nhất định phải viết dài hơn? Không thể nào chỉ vì sợ các người không hiểu, nên mới nhắc đi nhắc lại nhiều câu cho rõ ràng sao?

“Nếu con cũng thấy cái thứ nhất là tốt, vậy càng hay, chờ a mã con trở về, cũng chẳng cần nhờ vả ai khác, chỉ cần theo a mã ra ngoài là được.” Ô Nhã phu nhân nhanh chóng nói, rồi cất lá thư đi, một lát sau lại khẽ thở dài:

“Chỉ mong muội con sớm sinh thêm được một đứa nhỏ nữa…”

Ô Nhã đại ca nghe mà thấy khó nói. Chuyện đàn bà sinh con, một nam nhân như y biết mở miệng thế nào? Y chỉ lắc đầu:

“Giờ có sinh, với tình trạng của muội, e rằng cũng nuôi không nổi, cần gì gấp vậy?”

Ô Nhã phu nhân cười nhẹ:

“Sinh nhiều rồi thì tự nhiên cũng sẽ nuôi được thôi.”

Chẳng lẽ đứa đầu thì cho người khác nuôi, đứa thứ hai, thứ ba cũng đều giao cho người khác?

“Chỉ khi nào tự mình nuôi con, thì địa vị của muội con trong phủ mới thật sự vững vàng.” Bà nói.

Ô Nhã đại ca đứng dậy: