Chương 6: Mắt tím

Ô Lăng Tín vừa tròn mười sáu tuổi, dáng người đã trổ mã cao lớn đĩnh đạc, cao hơn bạn đồng trang lứa cả nửa cái đầu. Khung xương hắn rất đẹp, thân hình dong dỏng, bờ vai rộng, cần cổ thanh mảnh, những ngón tay thon dài đẹp mắt.

Vì dáng người gầy gò nên vòng eo hắn trông rất gọn, hắn thường mặc y phục trắng như tuyết, tuy chất liệu vải không mấy quý giá nhưng lại sạch sẽ, gọn gàng. Giữa đám đông, chỉ cần nhìn từ xa đã thấy hắn nổi bật như hạc đứng giữa bầy gà.

Hàng mi hắn cụp xuống, in bóng lên khuôn mặt trắng bệch dưới ánh trăng, toát lên vẻ bệnh tật mong manh yếu đuối.

Nếu là trước đây, Khương Nùng đã sớm đứng ra bênh vực hắn rồi. Nhưng lúc này, bóng dáng trắng toát đứng cách đó không xa dần dần chồng lên hình ảnh người đàn ông tàn bạo trong ký ức, khiến nàng vô thức nắm chặt cán dù trong tay.

Trong năm nước, nước Đàm là yếu nhất, quốc quân đối nội thì chuyên quyền độc đoán, đối ngoại lại nhu nhược hèn nhát. Tính tình Ô Lăng Tín lại trầm mặc cô độc, nghiễm nhiên trở thành đối tượng để đám vương tôn công tử ức hϊếp làm trò tiêu khiển.

Những nắm đấm và cú đá của đám người kia cứ thế trút xuống người Ô Lăng Tín, chiếc nhẫn ngọc cứng ngắc trên tay bọn chúng đập rách trán hắn, vậy mà Ô Lăng Tín vẫn chẳng cầu xin tha thứ, thậm chí không thốt ra một tiếng kêu đau đớn nào.

Văn Tổ Hoán cười cợt, thản nhiên xé nát từng cánh của chiếc đèn hoa sen mà Ô Lăng Tín định thả cho Khương Nùng ngay trước mặt hắn.

Thấy vậy, Ô Lăng Tín lại bắt đầu vùng vẫy kịch liệt, đám người kia càng cười to hơn, đầy vẻ thích thú đè chặt hắn xuống đất, không cho hắn phản kháng.

Văn Tổ Hoán ném những mảnh vụn của đèn hoa sen vào mặt Ô Lăng Tín, rồi ra lệnh cho lũ tay sai đẩy hắn xuống hồ.

Mặt hồ đang yên ả bỗng vang lên tiếng "ùm" thật lớn, bọt nước bắn tung toé, dòng nước lạnh lẽo lan ra từng đợt, xô đẩy vào những tán sen tàn. Đám người kia hả hê cười lớn rồi quay lưng bỏ đi, chẳng thèm quan tâm đến sống chết của Ô Lăng Tín dưới hồ.

Đợi đến khi tiếng bước chân biến mất hẳn, màn đêm tĩnh mịch chỉ còn lại tiếng mưa rơi rả rích, Khương Nùng mới cử động cơ thể đã tê rần vì ngồi xổm, nàng cầm dù, chậm rãi bước về phía Ô Lăng Tín vừa bị đẩy xuống.

Ô Lăng Tín không biết bơi, đầu lại bị đập bị thương, không chết thì cũng mất nửa cái mạng, chẳng trách kiếp trước hắn phải nằm liệt giường hơn nửa tháng mới miễn cưỡng đi lại được.

Nhưng mà, cũng chỉ là mất nửa cái mạng thôi...

Giống như lúc này đây, Khương Nùng đứng trên bờ, nhìn thấy Ô Lăng Tín đang liều mạng bám chặt lấy một tảng đá ven hồ. Toàn thân hắn ướt sũng, những lọn tóc đen nhánh dính bết vào đôi gò má nhợt nhạt, máu trên trán bị nước mưa rửa trôi, chảy ngoằn ngoèo xuống dưới, trông chẳng khác nào một con chó hoang đáng thương.

Con chó hoang ấy vừa nhìn thấy Khương Nùng, cứ như thể nhìn thấy chủ nhân, ánh mắt đang u tối bỗng bừng sáng lên.

Mặt nước lấp loáng, những đốm sáng nhỏ vụn phản chiếu khiến cảnh vật không quá tối tăm, đủ để phơi bày hết đôi mắt màu tím ướŧ áŧ của Ô Lăng Tín ngay trước mắt Khương Nùng.

Nếu Ô Lăng Tín là một con chó hay một con mèo, đôi mắt một đen một tím kia có lẽ sẽ được coi là mới lạ thú vị, nhưng ngặt nỗi hắn là con người. Ngày mà Ô Lăng Tín chào đời trùng hợp là lúc nước Đàm hứng chịu trận bão tuyết trăm năm có một, bão tuyết đến sớm rơi liên tục bảy ngày bảy đêm khiến cả nước điêu đứng, thế nên hắn bị coi là điềm gở.

Khi Ô Lăng Tín lớn lên, khiếm khuyết bẩm sinh của con mắt dị sắc ấy khiến hắn gặp khó khăn trong việc nhìn thấy sự vật bị bại lộ, quốc quân nước Đàm càng tin rằng hắn là sự trừng phạt mà ông trời giáng xuống, lại càng thêm chán ghét hắn.

Khương Nùng chỉ cảm thấy kiếp trước mình đúng là có mắt như mù, hết lần này đến lần khác cứu giúp một con sói mắt trắng, để rồi khi nó lật mình được liền quay lại cắn cho nàng bị thương khắp người.

Cho dù nàng từng bỏ rơi Ô Lăng Tín, nhưng nàng cũng nhiều lần ra tay cứu giúp hắn, nhiêu đó cũng đủ để bù đắp rồi. Huống chi tình cảm thời niên thiếu vốn chẳng sâu nặng đến thế, vậy mà hắn lại ghi hận suốt bao nhiêu năm như thế.