Hắn không nói rõ, cái gọi là “nhục mạ” của Yến Đế chính là ban cho hắn một danh hiệu vô cùng nhục nhã “Trệ cẩu”(1).
(1) Trệ cẩu = heo chó.
Đối với một thiếu niên có tâm cao khí ngạo, coi mình hơn người như Ngụy Kỳ, danh xưng ấy so với năm mươi trượng đòn roi còn khiến hắn đau đớn gấp bội. Ban đầu, chỉ có mình Yến Đế gọi hắn bằng danh xưng đó, nhưng về sau lại truyền ra khắp nơi. Không chỉ bọn hoàng tử và con tin các nước mà cả đám nô tài bên cạnh họ cũng kêu hắn là “Ngụy Trệ”, khiến Ngụy Kỳ nhục nhã vô cùng.
Mà nguyên nhân của tất cả chuyện này đều bắt nguồn từ công chúa Trân Nguyệt.
Nghe xong đầu đuôi câu chuyện, sắc mặt Ngụy Duyên càng lúc càng nghiêm trọng. Ông lập tức gạt bỏ ý định kết thân với Sở Quốc.
Ngụy phu nhân cũng đã đỏ hoe hai mắt, bà nắm tay Ngụy Kỳ, dịu giọng nói: “Mẫu thân biết rồi. Con yên tâm, ta sẽ khuyên phụ thân giải thích rõ ràng với triều thần.”
Ngụy Kỳ gật đầu, nhẹ giọng tạ ơn mẫu thân, rồi đứng dậy cáo từ.
Việc phải nhắc lại chuyện cũ năm xưa trong tình thế bất đắc dĩ như vậy khiến tâm trạng hắn nặng nề hơn, lúc này hắn chỉ muốn tìm một nơi yên tĩnh hít thở một chút.
Sau khi hắn rời đi, Ngụy Duyên vòng tay ôm vai phu nhân: “Đừng buồn nữa, mọi chuyện cũng đã qua rồi. Kỳ Nhi đã bình an trở về. Sau này, mọi việc nhất định sẽ tốt đẹp hơn.”
Ngụy phu nhân đưa khăn lên lau nước mắt, nghẹn ngào: “Ta vốn luôn yêu thích hoa tử đằng. Kỳ Nhi muốn hái mấy đóa về ép vào sách, có lẽ vì hắn nhớ ta...”
Thiếu niên bị giam cầm nơi đất khách quê người, như chim trong l*иg son không biết đến ngày tự do. Vô tình bắt gặp loài hoa mà mẫu thân yêu thích, hắn nhớ đến người thân ở xa, không kềm được mà đưa tay hái lấy. Nào ngờ một hành động vô tình lại chuốc lấy họa lớn, suýt nữa mất mạng ở phương xa.
Càng nghĩ, Ngụy phu nhân càng thấy đau lòng.
Ngụy Duyên vừa lau nước mắt cho bà, vừa dịu giọng an ủi: “Yên tâm đi, nếu Kỳ Nhi không muốn, ta sẽ hủy bỏ hôn sự này. Chúng ta tìm cách khác để kết minh với Sở Quốc, quyết không ép buộc hắn...”
“Đừng!” Ngụy phu nhân vội ngắt lời, đứng dậy nhìn phu quân chăm chú: “Chúng ta cứ tiến hành hôn sự này đi.”
“Hả?” Ngụy Duyên sững người trước sự thay đổi chóng vánh của thê tử, ông không khỏi ngạc nhiên: “Vừa rồi chẳng phải bà còn nói không được sao?”
“Giờ ta lại thấy rất tốt.” Ngụy phu nhân bình thản trả lời: “Ngài không nhận ra sao? Vừa rồi khi Kỳ Nhi nói chuyện, tuy giọng điệu tức giận nhưng lại hừng hực khí thế. Hắn về nước đã được ba năm, hôm nay là lần đầu tiên ta thấy biểu cảm sống động như vậy trên mặt hắn. Bây giờ, ta mới cảm thấy... rốt cuộc con trai của chúng ta đã hồi sinh.”
Sau khi trở về từ Đại Yến, Ngụy Kỳ luôn được tán thưởng là “tuổi trẻ tài cao, ắt thành châu báu.” Nhưng suốt ba năm qua, mọi người chỉ thấy sự u uất trầm mặc của hắn, tựa như một khúc gỗ khô không còn sinh khí. Mãi đến hôm nay, Ngụy phu nhân mới được chứng kiến hơi thở sống động của nhi tử.
Chỉ cần hắn có thể sống như một người bình thường, có hỉ nộ ái ố, biết mừng biết giận, thì cưới ai cũng không quan trọng.
Ngụy Duyên không thật sự hiểu được tâm tư của thê tử, trong lòng ông còn do dự: “Nhưng Kỳ Nhi không ưa công chúa Trân Nguyệt, nếu ép hôn thì bọn họ sẽ trở thành một đôi phu thê oan gia. Việc hai nước liên minh không còn ý nghĩa gì nữa.”
“Sao lại không có ý nghĩa?” Ngụy phu nhân nhướng mày đáp: “Ít nhất cũng có thể giúp Kỳ Nhi xả giận một phen!”
Ngụy Duyên nghe thế thì dở khóc dở cười: “Được rồi, tất cả nghe theo bà.”
Dù sao cũng chỉ là cưới một nàng dâu mà thôi. Sau này, nếu bọn họ không thể hòa hợp, thì cứ xem nàng dâu này như một món đồ trang trí trong cung là được. Dù sao nàng cũng đã gả vào Ngụy Quốc, lẽ nào bọn họ không quản nổi nàng?
Nghĩ vậy, Ngụy Duyên cảm thấy yên lòng, lập tức quyết định chuyện hôn sự.